Lý Do Tại Sao Người Do Thái Thông Minh

Thảo luận trong 'Tin Tức' bắt đầu bởi Trùm, Thg 2 18, 2017.

  1. Trùm

    Trùm Administrator Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    993
    Người Do Thái đạt giải Nobel tiết lộ:

    Kinh Thánh là bí quyết tạo ra các thiên tài người Do Thái

    [​IMG]

    Sau khi hai giáo sư người Do Thái sống ở Mỹ đoạt giải Nobel Hóa học năm nay, nó đặt ra câu hỏi:

    Tại sao người Do Thái đã rất thành công trong lĩnh vực này, mặc dù dân số theo tỷ lệ nhỏ của họ?

    Khoảng 20% hoặc 1 trong 5 người đoạt giải Nobel là người Do Thái, nhưng người Do Thái chỉ chiếm chưa đầy 0,2% dân số thế giới.

    [​IMG]

    Một giả thuyết phổ biến trong một bài luận một vài năm trước đây gọi là Thiên Tài người Do Thái của tác giả Charles Murray, người tạo ra ý tưởng về siêu gen. Ông viết rằng: một cái gì đó trong gen giải thích chỉ số IQ rất cao của người Do Thái.

    [​IMG]

    Tính từ thời điểm này đã có 194 người Do Thái nhận được giải Nobel trong tất cả mọi lĩnh vực mặc dù người do thái có dân số ít nhất thế giới.

    Nhưng một lý thuyết mới đã nổi lên của Robert Aumann, một người Do Thái đoạt giải Nobel Kinh tế (Lý thuyết trò chơi) vào năm 2005. Ông cho rằng điều tạo ra các thiên tài người Do Thái là do truyền thống đọc sách nói chung và cụ thể là học Kinh Thánh Do Thái.

    [​IMG]

    Ngày nay người Do Thái vẫn tiếp tục gìn giữ truyền thống giáo dục học Kinh Thánh

    Aumann một vị giáo sư người Do Thái đạt giải Nobel nói:

    Học sách Kinh Thánh Do Thái là một sự theo đuổi tri thức, và tôn vinh giá trị này cuối cùng để theo đuổi các mục đích khác.

    Aumann một vị giáo sư người Do Thái đạt giải Nobel đã nói với Đài phát thanh quân đội Do Thái :

    " Ngôi nhà của người Do Thái có đầy đủ sách, còn những ngôi nhà khác có thể hoặc không thể có.

    Nhà của người Do Thái bị tràn lan ngập đầy những cuốn sách.

    Trong suốt các thế hệ chúng ta đã vinh dự để theo đuổi trí tuệ này ...

    Học sách Kinh Thánh Do Thái làm cho đất nước và con người đạt được chất lượng tốt nhất và cao nhất. "


    Sau tất cả những điều này, người Do Thái là Dân Tộc Của Sách - Kinh Thánh.

    [​IMG]

    Hình ảnh từ một bàn học của học sinh người Do Thái và thầy giáo người Do Thái.


    Dịch từ bài báo israeltoday.co.il/NewsItem/tabid/178/nid/24286/Default.aspx

    Hình ảnh sưu tầm trên các tờ báo chí Do Thái

    Phải chăng đây là cách giáo dục trẻ em theo phương pháp Kinh Thánh của người Do Thái?



    Vấn đề người Do thái thông minh thì không cần phải bàn cãi. Khắp mọi nơi trên thế giới, ai ai cũng đều nói rằng người Do thái thông minh.

    [​IMG]

    Nhưng chẳng phải chỉ nói mà thôi. Sau đây là những sự kiện:

    Dân số thế giới hiện nay vào khoảng hơn 7 tỷ người, dân Do thái và gốc Do thái ngày nay tại quốc gia Do Thái chừng 6,5 triệu, tại Mỹ gần 6 triệu, cộng với tất cả các nước khác trên thế giới lại thành gần 20 triệu, như vậy tỷ lệ 0.28%. Nói cho chẵn, thì cứ 1000 người sống trong thế gian, thì sẽ chỉ có 3 người là người Do thái.

    [​IMG]

    Thế mà chưa đầy năm mươi năm trước, năm 1978, một nữa tổng số các giải Nobel đã về tay người Do thái, nghĩa là 50%. Chỉ có 0.28% kia mà lại chiếm đến 50% giải của cả nhân loại, thì cũng đủ thấy rõ.

    Về chỉ số IQ, tức là chỉ số thông minh cũng vậy. Theo sự khảo sát gần đây, nếu chỉ số thông minh IQ trung bình của thế giới là 100, thì IQ của người Do thái gần đến 118. Người ta cũng nói rằng nếu chỉ số thông minh IQ tối thiểu cho một thiên tài là 140, thì trong nhân loại trung bình cứ 1000 có được 4 người, còn với người Do thái, cứ 1000 người, có được suýt soát 29 người.

    [​IMG]

    Không nói đến những người đã chết, số những người Do thái nổi tiếng ngày nay, hiện còn sống, cũng nhiều vô kể. Mọi lãnh vực từ khoa học, kỹ thuật, chánh trị, kinh tế, tài chánh, giáo dục, y học, triết học, văn học, mỹ thuật, kịch nghệ, âm nhạc, ... đều có những nhân vật đầu bảng. Chỉ nói riêng phương diện tin học thì cũng đã có hai nhân vật mà mỗi bạn trẻ đều biết: Người sáng lập ra công cụ tìm kiếm Google, Sergey Brin, và người sáng lập ra mạng xã hội Facebook, Mark Zuckerberg, cũng đều là người Do thái….

    [​IMG]

    Nhưng nhờ đâu mà người Do thái thông minh đến dữ dội như vậy?

    Từ thời thượng cổ, người Hy lạp đã tin rằng người càng thông minh, bộ não càng lớn. Các nhà thần kinh học ngày nay cũng tin rằng khối lượng não bộ của một người có liên quan trực tiếp đến sự thông minh của người ấy.

    Khi Albert Einstein chết, thân thể ông hỏa táng. Nhưng ông đã đồng ý hiến tặng bộ não của ông cho các nhà khoa học. Người ta đã giải phẩu và thấy rằng thùy đỉnh của não bô ông lớn hơn mức bình thường là 15%.

    Nhưng làm thế nào để não bộ được lớn? Cách đây ba tháng, khi tôi trải qua giải phẩu ở chân, ba ngày sau các sĩ ra lệnh phải tập đi. Họ nói: “Trong cơ thể của chúng ta, cái gì càng năng vận dụng thì sẽ càng phát triển, và trở nên mạnh mẽ. Cái gì không sử dụng thì sẽ teo lại và mất khả năng.

    [​IMG]

    Người Do thái đã vận dụng và phát triển não bộ của họ bằng cách nào? Bằng cách học thuộc lòng Kinh Thánh. Trẻ con Do thái từ khi mới sinh ra, đã được cha mẹ dạy để học thuộc Kinh Thánh. Sau đó các em được đưa đến Nhà hội, và tại đây cách học Kinh Thánh của Nhà hội vẫn là học thuộc lòng. Như chúng ta có thể thấy, do đó, Đức Giê Su và các sứ đồ, và thậm chí thầy thông giáo và người Pha ri sêu, đi đâu thì không cần phải vác theo các cuộn Kinh Thánh bằng giấy da rất nặng nề. Họ đã thuộc lòng Kinh Thánh.

    [​IMG]

    Nhưng có người sẽ hỏi: Einstein và nhiều ngươì Do thái ngày nay đâu có còn học thuộc Kinh Thánh, vậy sao họ vẫn thông minh? Đúng vậy, nhưng não bộ của ngươì Do thái đã được phát triển không phải chỉ qua một ngày. Trong tiến trình vận dụng trí nhớ để học thuộc Kinh Thánh trải qua hàng mấy ngàn năm, mỗi ngày một chút, não bộ của người Do thái đã phát triển thêm và lưu truyền lại.

    [​IMG]

    Lại cũng có người nói: Áp ra ham gốc là người Lưỡng hà (IRAQ ngày nay) , mà người Lưỡng hà vốn dĩ thông minh. Chính họ, cách đây hơn 4000 năm đã biết sử dụng chữ viết. Có lẽ Áp ra ham cũng thuộc dòng thông minh, nhưng cần nhớ rằng dòng dõi của ông không phải chỉ có người Do thái, mà còn người Ả rập. Sự thông minh của ngươì Ả rập so với sự thông minh của nhân loại cũng bình thường thôi.

    [​IMG]

    Chỉ có riêng người Do thái là đặc biệt thông minh, thông minh xuất sắc. Sỡ dĩ họ thông minh như vậy vì tổ tiên của họ đã có thói quen vận dụng trí não để học thuộc Kinh Thánh, và sự thông minh đó đã được di truyền lại.

    [​IMG]

    Bên cạnh đó, đã có nhiều bằng chứng cho thấy sự vận dụng trí não cũng sẽ giúp cho các nơron thần kinh hoạt động mạnh mẽ, và trí não được trẻ trung dâu dài.
     
    Chỉnh sửa cuối: Thg 2 18, 2017
  2. Trùm

    Trùm Administrator Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    993
    Người Do Thái Ăn Gì Để Tăng Trí Thông Minh?

    Kô Sơ, luật lệ ăn uống cho người Do Thái chính cống.

    [​IMG]

    Không có ở đâu trên thế giới, ngay cả ở tại Giêrusalem thủ đô của người Do thái , sống tập hợp nhiều người Do Thái chính cống, là những người theo đạo Do thái chính thống như ở Nữu Ước.

    Tổng cộng có khoảng 10 đến 15% số người dân Do thái trên toàn thế giới theo đạo chính thống này.

    Chính thống có các nghĩa là làm đúng theo lời dạy của Thiên Chúa.

    [​IMG]

    Đạo Công Giáo cũng có loại sùng đạo gọi là Chính Thống Giáo.

    Liên xô , Hy lạp 98% dân số theo đạo Chính Thống Giáo, Bun-ga-ri 84% dân số; Rumani 70%

    Đứng trên quan điểm khách quan mà suy xét tôi nhận thấy người Do thái đa số họ rất thông minh, rất nhiều người thành công trên lảnh vực khoa học, y học, kỷ thuật, nghệ thuật, phát minh, sáng kiến, thương mại như Albert Einstein, *Sigmund Freud, *Marie Curie, Michael Dell, Levi Strauss, Alan Greenspan, Zino Davidoff, *Marcel Tolkowsky, Giacomo Meyerbeer (nhà soạn nhạc và chỉ huy dàn nhạc, nổi tiếng thế kỷ 18), Frank Kafka văn hào Do thái Tiệp-Áo-Hung; Jakob Ludwig Felix Mendelssohn Bartholdy (nhà soạn nhạc, điều khiển dàn nhạc, nghệ sĩ đàn dương cầm, đàn đại phong cầm nổi danh thế kỷ 19); Leonard Bernstein, Bob Dylan, Marc Chagall, *Friedensreich Hundertwasser, *"Warner Brothers", *John Jacob Bausch, Charles Spencer Chaplin, Steven Spielberg; Harrison Ford (cha người Ái nhĩ Lan, mẹ Liên xô gốc Do thái); Jane Seymour (mẹ gốc Hòa lan, cha Do thái Anh quốc); Lorne Greene đóng vai Ben Cartwright trong phim cao bồi Bonanza (cha/mẹ Do thái đông Âu); Woody Allen; Roman Polanski (mẹ gốc Liên xô, cha Do thái Ba lan); Paul Newman (mẹ người Tiệp, cha Do thái); Kirk Douglas (cha/mẹ Do thái Liên xô); Garry Kasparov (hạng nhứt thế giới cờ vua 1985-1993 cha người Do thái Armenia, mẹ người Armenia vùng bị Liên xô chiếm đóng); Michel de Nostredame (dược sĩ, thiên văn học, tiên tri Nostradamus, người Do thái Pháp), v.v.

    Khoảng 22% tổng số toàn thể những người đoạt giải Nobel từ năm 1901 đến nay về Y khoa, Vật lý, Hóa học, Khoa học/Kinh tế, Văn học, giải Nobel Hòa bình thế giới, là người có nguồn gốc Do thái. Click vào để xem danh sách.

    Tôi nghĩ, thức ăn thức uống là một trong những yếu tố quan trọng nhứt để đem lại sức khỏe cũng như là mầm mống của bịnh hoạn cho con người.

    [​IMG]

    Một người Do thái Chính Cống từ nhỏ tới lớn sống và ăn uống theo luật lệ "Kô Sơ" của Do thái đạo chính thống, có lần anh ta trả lời khi tôi hỏi:

    "Sao anh lại chọn cách ăn uống theo luật lệ phức tạp này?"

    Anh nói:

    "Ăn những thứ không phải Kô Sơ sẽ làm cho trí óc và trái tim của con người dần dần ngu si đần độn đi (dumbing down)!"

    [​IMG]

    Tôi đã tìm hiểu về lối ăn uống Kô Sơ của họ, và đây là nội dung:

    Kô Sơ có nghĩa là gì?

    Từ tiếng Do thái Kát Rụt có nghĩa: hoàn mỹ, "theo lễ nghi của đạo không có vấn đề gì".

    Vì sao lại có luật ăn uống Kô Sơ?

    Kể từ năm 70 sau công nguyên (sau khi Jesus sanh ra đời) Do thái đánh thua quân La mã, tất cả tiêu tan, người dân Do thái phải tứ tán khắp nơi, sống cuộc đời du mục bất đắc dĩ vì họ không còn đất nước, không có trung tâm để hành đạo.

    Theo sách kinh, 600 000 người Do thái được phép rời khỏi cuộc đời nô lệ trên đất Ai cập* và đi lang thang trong sa mạc 40 năm "Sách xuất hành", đi tìm miền đất hứa.

    * Sau 430 năm, nô lệ Do thái được phép của Pha-ra-ông rời khỏi Ai cập sau khi nước này bị 10 tai họa:

    1/ Nước sông biến thành máu, trong 7 ngày không thể dùng được.

    2/ Ếch nhái tràn lan bao trùm đất Ai cập.

    3/ Muổi nhiều như bảo cát, là nguồn tai họa cho người và thú.

    4/ Ruồi rất nhiều ở khắp mọi nhà, mọi nơi.

    5/ Bịnh dịch hạch (thú) giết ngựa, bò, lạc đà, cừu.

    6/ Loét mọng nước (trái rạ) truyền nhiễm cho người và thú.

    7/ Mưa đá giết người và thú, tiêu diệt mùa màng, cây cỏ.

    8/ Cào cào, châu chấu bao phủ mặt đất và ăn hết tất cả thực vật.

    9/ Nhật thực ba ngày liên tiếp.

    10/ Đứa con đầu lòng, con thú đầu lòng trên đất Ai cập sẽ bị chết.

    Để phòng ngừa bịnh hoạn và sau đó đã trở thành một quy luật cột trụ để tồn tại và sống còn, họ đã đặt ra quy luật ăn uống Kô Sơ này và đó đã thành một nghi thức ăn uống cho tất cả những người đạo Do thái chính thống trên toàn thế giới cho dù họ sống bất kỳ nơi đâu, bất kỳ họ nói những ngôn ngữ khác nhau nhưng truyền thống ăn uống theo Kô Sơ từ bao nhiêu thế kỷ thì vẫn là như vậy.

    [​IMG]

    Đặc điểm chính, quy tắc ăn uống theo Kô Sơ là:

    1- Phân biệt giữa thịt con thú nào được phép ăn, con nào không được ăn.

    2- Chỉ được ăn vùng (phân nữa) phía trước của con thú, thí dụ: con bò chỉ được ăn phần thịt bả vai ; sường ức / nạm ; thịt cơ hoành / bụng trước / nạm / gầu (short plate).

    3- Không được ăn, uống máu động vật.

    4- Thức ăn thịt và thức ăn sữa phải riêng biệt ra, không dùng chung chạm nhau, thậm chí muổng nĩa, nồi chảo để nấu nướng hai thứ này phải riêng biệt, cả khi rửa chén dĩa cũng phải tách ra hai bồn.

    5- Những thức ăn trung tính.

    1/ Theo quy luật Kô Sơ thì người Do Thái Chính Cống chỉ được phép ăn những con thú có móng guốc chẻ và đồng thời phải là động vật ăn cỏ và nhai lại.

    Thí dụ những con thú ăn được:

    Con bò, con dê, cừu có móng chẻ và nhai lại.

    Cá thì phải loại có vảy và vây cá.

    Loài có cánh: gà, vịt, ngỗng, gà lôi, bồ câu.

    Thí dụ những con thú bị cấm không được phép ăn:

    Con heo tuy có móng chẻ những không nhai lại.

    Con ngựa, con Lạc đà không có móng chẻ.

    Con lươn, cá ngát (eeltail catfish), cá trê, cá ông, cá heo, cá mập, sói biển (seawolf), cá bơn (turbot), cá tầm (sturgeon) không có vảy. Trứng cá caviar của cá tầm cũng không Kô Sơ.

    Con tôm, tôm hùm, tép, tất cả loại nghêu sò ốc hến, ếch, nhái, con mực, con rùa.

    Tất cả các loại bò sát như rắn, và những con côn trùng, sâu bọ.

    Tất cả các loài chim săn và ăn thịt như diều hâu, chim ưng.

    2/ Phần thịt phía sau của con thú, không được ăn. Thí dụ con bò không ăn: thăn trên (short loin); thịt bụng (flank); thăn ngoài (sirloin); mông (round).

    [​IMG]

    3/ Khi ăn thịt phải ăn loại thịt thọc huyết

    Sê Chi Ta để máu chảy ra hết (càng ít máu trong thịt càng tốt), trước khi nấu phải ngâm nước 30 phút.

    Sau đó chà muối và rửa để giảm máu trong thịt tới mức tối thiểu.

    Họ cho là trong máu chứa đựng linh hồn của con thú.

    Nếu ăn uống máu sẽ làm cho người đó hiếu chiến, nóng nảy và dữ dằn lên.

    [​IMG]

    Không ăn thịt thú vật sống trên cạn và cá chung trên cùng một phần ăn. Sau khi ăn thịt xong phải rửa dĩa, muỗng, nĩa và phải súc miệng kỹ rồi mới được ăn cá (và ngược lại cũng vậy).

    4/ Sữa và phó mát của những con thú Kô Sơ (bò, dê, cừu) mới ăn uống được. Sau khi ăn thịt phải một thời gian lâu sau (thông thường là 6 tiếng) mới được phép dùng thực phẩm sữa, nhưng ngược lại dùng thức ăn có sữa thì thời gian ngắn hơn (khoảng 30 phút) có thể dùng thịt vì sữa tiêu hóa nhanh hơn thịt. Thời gian ăn uống giữa hai loại thực phẩm thịt và sữa theo truyền thống từng nơi dài ngắn khác nhau.

    5/ Những thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, rau cải, ngũ cốc, trứng gà vịt, cá và*mật ong, rượu vang, trà, café.

    *mật ong: tuy con ong là loài côn trùng không Kô Sơ, nhưng mật ong lại là thực phẩm được phép ăn.

    Trái của cây chưa qua 3 tuổi không được ăn, cũng không được ép nước uống hoặc làm thực phẩm để ăn.

    Ở tại Nữu Ước có rất nhiều tiệm bán thực phẩm cũng như nhà hàng ăn uống theo Kô Sơ.

    Người nấu thức ăn Kô Sơ trong nhà hàng Kô Sơ bắt buộc phải là người Do thái theo đạo chính thống.

    Thực phẩm ở siêu thị thường có dấu ấn chứng nhận của chữ U trong một vòng tròn.

    [​IMG]

    Trái cây cũng được kiểm soát để không có sâu bọ hoặc trứng sâu bên trong, trứng gà vịt không được có trống và có máu.

    Khi đi du lịch hoặc đi làm ăn ở các nước khác trong thời gian ngắn, nơi mà không có hoặc ít tiệm ăn Kô Sơ, những người theo đạo chính thống này thay vì đem theo quần áo, họ thường chỉ mặc một bộ đồ trên người và thay thế vào hành trang/hành lý của họ là thực phẩm cũng như muỗng nĩa Kô Sơ riêng biệt.

    [​IMG]

    Sê Chi Ta là cách thọc huyết thú vật đặc biệt của người Do thái, họ phải học nhiều năm mới được công nhận. Thịt thú Kô Sơ phải qua một cơ quan giám sát, chứng nhận và đóng tem.Người Do thái quan niệm rằng, sự sống của mỗi sinh vật đều quý giá, vì vậy cho nên lấy đi sự sống, giết con vật là một chuyện rất linh thiêng nên cần phải làm cho chúng ít đau đớn càng ít càng tốt. Con dao của người thọc huyết Kô Sơ chuyên nghiệp cực kỳ bén, bén như lưỡi lam. Ai đã từng bị lưỡi lam sắc bén cắt sẽ có thể cảm nhận được khi mới bị cắt sẽ không thấy đau, chỉ khi nào dùng cồn sát trùng vết thương mới thấy rát. Khi họ thọc huyết, với chỉ một nhát họ cắt đứt 2 động mạch chính ở cổ của con thú, cắt đứt ống thở khí quản cũng như ống thực quản, và 2 hệ thần kinh chính. Con thú sẽ chết trong vòng 3 đến 4 giây so với cách giết thông thường con thú chết sau nhiều phút. Sau khi cắt cổ xong họ sẽ để cho máu chảy ra đến mức còn tối thiểu máu trong thân thể con thú. Các bộ đồ lòng của con thú sẽ được trải qua một cuộc khám xét kỹ lưỡng, những con bị ung thư hoặc có những bộ phận dị lạ sẽ không được coi là thịt Kô Sơ nữa.

    [​IMG]
     
  3. Trùm

    Trùm Administrator Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    993
    Tại Sao Người Hàn Quốc Học Kinh Thánh Của Người Do Thái?

    Rất nhiều người Đại Hàn Dân Quốc trong tổng số 50 triệu dân Hàn Quốc đang đọc bộ sưu tầm các tác phẩm của người Do Thái ở nhà với mục tiêu cố gắng để trở thành "thiên tài như người Do Thái, " tòa đại sứ giải thích.

    Hầu như mỗi ngôi nhà ở Hàn Quốc có một bản dịch Kinh Thánh Do Thái. Nhưng không giống như quốc gia Do Thái, các bà mẹ Hàn Quốc nghiên cứu và đọc Kinh Thánh Do Thái cho con trẻ của họ.

    Trong một đất nước có gần 49 triệu người dân, nhiều người theo đạo Phật giáo và Thiên Chúa giáo, có nhiều người đọc Kinh Thánh Do Thái - hoặc ít nhất là có một bản sao để ở nhà - còn nhiêu hơn nữa so với quốc gia Do Thái.

    Bằng cách này chúng ta sẽ có rất nhiều những thiên tài.

    [​IMG]
    Một lớp học của người Do Thái

    "Chúng tôi đã rất tò mò về thành tích học tập xuất sắc của người Do Thái," phát biểu của Đại sứ Hàn Quốc Young Sam Ma, người từng là khách mời trên "Văn hóa Today" của kênh 1.

    Người Do Thái có một tỷ lệ phần trăm cao của những người đoạt giải thưởng Nobel trong các lĩnh vực: Trong văn học, khoa học và kinh tế Đây là một thành tích tuyệt vời.

    Chúng tôi đã cố gắng để hiểu được những bí mật của người Do Thái. Tại sao người Do Thái Hơn các quốc gia khác - tính toán sao để đạt được những thành tựu ấn tượng. Bằng cách nào mà người Do thái có nhiều thiên tài như vậy ? Các kết luận chúng tôi đạt đến là một trong những bí mật của người Do Thái là học Kinh Thánh Do Thái.

    [​IMG]

    Kinh Thánh Do Thái phiên bản Hàn Quốc - Ảnh lịch sự của Đại sứ quán Hàn Quốc.

    Người Do Thái đọc Kinh Thánh Do Thái từ khi còn nhỏ, và chúng tôi tin rằng điều đó sẽ giúp các em phát triển khả năng tuyệt vời. Sự hiểu biết này dẫn chúng tôi đến kết luận rằng chúng tôi cũng nên dạy Kinh Thánh Do Thái cho trẻ em. Chúng tôi tin rằng nếu chúng tôi dạy con em chúng tôi Kinh Thánh Do Thái, chúng tôi cũng có thể trở thành thiên tài. Và đó là những gì đằng sau quyết định để đọc Kinh Thánh Do Thái ở nhà.

    Young cho biết bản thân ông đã được đọc Kinh Thánh Do Thái từ khi còn rất nhỏ. "Điều được coi là nghiên cứu quan trọng ," ông nhấn mạnh. "Kết quả là có rất nhiều người Hàn Quốc có một bản sao Kinh Thánh Do Thái ở nhà nhiều hơn là người Do Thái ở xứ sở Do Thái.

    Tôi, ví dụ, có hai bộ Kinh Thánh Do Thái -. Một trong số Kinh Thánh Do Thái đã được mua bởi người vợ của tôi và cuốn Kinh Thánh Do Thái khác được mua bởi mẹ vợ của tôi"

    Người hâm mộ người Do Thái.

    Người Hàn Quốc rất thích Kinh Thánh Do Thái không chỉ bởi vì họ tin rằng nó tạo ra chất lượng thiên tài, nhưng giá trị bởi vì họ đã tìm thấy gần với trái tim của họ trong đó.

    "Truyền thống Do Thái nhấn mạnh giá trị gia đình," giải thích bởi đại sứ Hàn Quốc. "Bạn cũng có thể nhìn thấy nó ngày hôm nay, trong truyền thống bữa ăn gia đình ngày thứ sáu.

    "Ở nước tôi gia đình là rất quan trọng , cách mà Người Già được đối xử tôn trọng và đánh giá cao Do Thái giáo cách đối xử với người Già , song song với sự đánh giá cao những người Già ở đất nước tôi."

    [​IMG]

    Kệ sách của Hàn Quốc - Ảnh lịch sự của Đại sứ quán Hàn Quốc.

    Một điều quan trọng là thái độ đối với giáo dục. Trong truyền thống Do Thái Giáo có nghĩa vụ dạy dỗ trẻ em, và rất nhiều sự chú ý quan tâm dành cho trẻ em. Trong số các bậc cha mẹ Hàn Quốc, giáo dục trẻ em là những ưu tiên hàng đầu.

    "Tôi nghĩ rằng sự tương đồng này đã dẫn đến một thực tế là hiện nay bạn có thể thấy trong những người nhập cư Hoa Kỳ Hàn Quốc theo bước chân của người Do Thái và thành công trong các lĩnh vực mà người Do Thái thành công."

    Tình yêu dành cho Kinh Thánh Do Thái đã được theo sau bởi sự đánh giá cao trong lĩnh vực bổ sung, bao gồm cả văn hóa. "Người Do Thái như văn hóa và nghệ thuật. Tôi sống ở Rishpon, là một Moshav nhỏ, và một phòng trưng bày nghệ thuật và âm nhạc mở cửa tuần trước", Đại sứ nói.

    "Tôi đã rất ấn tượng bởi thực tế là ngay cả một Moshav nhỏ có một nhà văn hóa. Chúng tôi không có các tùy chọn mà bạn có, nhưng chúng tôi học hỏi từ bạn trong lĩnh vực này và đầu tư thật nhiều để chúng tôi có thể có được hưởng những lĩnh vực như bạn."

    Anh em sinh đôi.

    Và nếu bạn nghĩ rằng đây là nơi kết nối kết thúc, hãy nghĩ lại: Tiểu sử của người Do Thái, trông khá độc đáo với chúng tôi, liên tưởng những người Hàn Quốc của riêng họ.

    "Tôi tìm thấy nhiều điểm tương đồng giữa chúng ta - những người Do Thái và Nhà nước Do Thái", Đại sứ nói. "Chúng ta có một lịch sử lâu dài với những khó khăn lớn. Do Thái và Hàn Quốc đã trở thành độc lập trong cùng một năm, năm 1948, vì vậy chúng ta bằng tuổi nhau, 63. Chúng tôi, như bạn, có vấn đề với các nước láng giềng ganh ghét. Chúng tôi, như bạn, hầu như không có bất cứ nguồn tài nguyên thiên nhiên nào và chúng ta phải dựa chủ yếu vào nguồn nhân lực.

    "Trong 63 năm tồn tại quốc gia Do Thái đã phát triển rất nhiều. Người Do Thái tạo ra phép lạ trong nền kinh tế , và do đó chúng tôi đã làm. Những người dân trong quốc gia Do Thái cũng tương tự như những người Hàn Quốc trong phẩm giá của họ cũng như trong sự thiếu kiên nhẫn của họ cho thấy, đôi khi.

    Khi mọi người phàn nàn về cách bạn lái xe, tôi nói rằng tôi thấy nó rất thuận tiện lái xe ở đây vì bạn hành động trên đường như chúng tôi làm. Bạn cũng có một trái tim ấm áp, giống như người Hàn Quốc, và do đó tôi nghĩ rằng người Do Thái và người Hàn Quốc có thể làm bạn với nhau một cách dễ dàng, bởi vì chúng ta có những cảm xúc tương tự.

    [​IMG]

    Tôi phát hiện ra rằng khi một người Do Thái đã kết bạn với bạn, người Do Thái sẽ giúp bạn mà không quan tâm rằng sẽ nhận lại được gì.

    Đây là lý do tại sao tôi trân trọng tình bạn của tôi với người Do Thái. Chúng tôi học hỏi từ bạn tất cả các thời gian.
     
  4. Trùm

    Trùm Administrator Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    993
    Người Do Thái không mang tư tưởng làm bá chủ thế giới như những dân tộc khác.

    Nhưng người Do Thái mang tư tưởng làm ánh sáng soi đường dẫn dắt nhân loại để tìm ra giải pháp để chống lại dịch bệnh, đói khổ, nghèo đói, bất công trong xã hội.



    Nếu bạn nghiên cứu Kinh Thánh của người Do Thái bạn sẽ hiểu rõ , khi mà nhân loại ai cũng hạnh phúc bình đẳng no ấm , môi trường thiên nhiên sạch sẽ hòa hợp với con người. Thì sẽ không còn bất cứ dân tộc nào làm bá chủ nữa. Những lời nói trong Kinh Thánh là động lực làm cho người Do Thái cố gắng đọat nhiều giải Nobel để chứng minh đức tin của họ qua hành động

    I-sai-a 49:6 Bản Dịch 2011 (BD2011)

    6 Chính Ngài phán, “Ngươi làm đầy tớ Ta,

    Ðể lập lại các chi tộc của Gia-cốp,

    Ðể đem những người còn sống sót của I-sơ-ra-ên trở về,

    Ấy là việc nhỏ.

    Nầy, Ta sẽ làm ngươi trở thành ánh sáng cho muôn dân,

    Ðể qua ngươi ơn cứu rỗi của Ta có thể đến những nơi xa xôi và cực kỳ hẻo lánh trên mặt đất.”

    I-sai-a 42:6 Vietnamese Bible: Easy-to-Read Version (BPT)

    6 CHÚA phán, “Ta là CHÚA kêu gọi các ngươi làm điều thiện,

    ta sẽ nắm tay và bảo vệ ngươi.

    Ngươi sẽ làm dấu hiệu của giao ước ta với dân chúng,

    làm ánh sáng chiếu cho mọi người.

    I-sai-a 60:3 1934 Vietnamese Bible (VIET)

    3 Các dân tộc sẽ được nơi sự sáng ngươi, các vua sẽ đến nơi sự chói sáng đã mọc lên trên ngươi.

    Ngay từ khi còn nhỏ, những người Cha, thầy giáo đã lập trình bộ não trẻ em Do Thái niềm đam mê đọc sách, học hỏi và nghiên cứu bằng cách nhỏ mật ong lên Kinh Thánh hoặc bảng chữ cái tiếng Do Thái.



    Người Do Thái dạy con nhỏ vài giọt mật lên sách và cho bé liếm

    Ê-xê-ki-ên 3:1-3 Vietnamese Bible: Easy-to-Read Version (BPT)

    3 Rồi CHÚA phán cùng tôi, “Hỡi con người , hãy ăn vật ngươi thấy; hãy ăn cuộn sách nầy. Rồi hãy đi ra nói cùng dân Ít-ra-en.” 2 Vậy tôi mở miệng và Ngài trao cho tôi cuộn sách để ăn.

    3 Ngài bảo tôi, “Hỡi con người, hãy ăn cuộn sách mà ta trao cho ngươi, cho thật đầy bụng. Vậy tôi ăn cuộn sách đó thì tôi thấy thật ngọt như mật ong trong miệng.”

    [​IMG]

    Người Do Thái dạy con nhỏ vài giọt mật lên sách và cho bé liếm

    [​IMG]

    Người Do Thái dạy con nhỏ vài giọt mật lên sách và cho bé liếm

    [​IMG]

    Người Do Thái dạy con nhỏ vài giọt mật lên sách và cho bé liếm

    Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

    [​IMG]

    Trẻ em người Do Thái bắn cung

    [​IMG]

    Trẻ em người Do Thái tập bắn cung

    [​IMG]

    Dân do thái bắn cung

    [​IMG]

    Học sinh người Do Thái bắn cung

    [​IMG]

    Cung thủ người Do Thái

    [​IMG]

    Người Do Thái bắn cung tên
     
  5. Trùm

    Trùm Administrator Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    993
    Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

    [​IMG]

    Tác giả: Hoàng Anh Tuấn

    Thành công của người Do Thái nhiều người đã biết, đã nghe từ lâu và có thể kể cả ngày, cả tháng cũng không hết. Là người đã tìm hiểu câu chuyện này cả chục năm nay, càng đi sâu tìm hiểu về những thành công của Israel và người Do Thái, tôi càng thấy phức tạp nhưng cũng hết sức thú vị. Chuyến đi Israel lần này, ngoài các công việc thường lệ, rất nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với nhiều người, nhiều giới, nhiều nơi khác nhau giúp tôi kiểm chứng, củng cố thêm các nhận định trước đây của mình; biết thêm nhiều vấn đề mới; đồng thời cũng xóa bỏ một số các định kiến một chiều, phiến diện.

    Có rất nhiều câu hỏi đeo đẳng trong suốt quá trình tìm hiểu để có câu trả lời thấu đáo, đại loại như:

    1. Tại sao chỉ chiếm một phần nhỏ của dân số thế giới, nhưng người Do Thái lại có sự thông tuệ vượt thời gian, hơn hẳn các dân tộc khác trên thế giới? Nếu tính theo chỉ số IQ, chỉ số trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới. Tuy mức chênh lệch IQ chỉ là 10, nhưng tỷ lệ thiên tài trong nhóm những người có IQ 110 cao hơn nhóm có chỉ số IQ 100 tới 120-150 lần!

    2. Phải chăng người Do Thái có “gien” thông minh hơn người và “gien” này được lưu giữ và truyền từ đời này qua đời khác?

    Câu chuyện này đã được nhiều nhà khoa học âm thầm nghiên cứu để tìm câu trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, người Do Thái lại “bác bỏ” điều nay, cho rằng sở dĩ người Do Thái thành công là do điều kiện, hoàn cảnh bắt buộc họ phải nỗ lực, sáng tạo và vươn lên không ngừng để thích nghi với hoàn cảnh. Vậy thực, hư câu chuyện này ra sao?

    3. Nếu như có “gien” Do Thái như vậy thì “gien” này được “lưu giữ” và phát triển ra sao từ thời “Cụ Tổ” của người Do Thái đến nay và trong hoàn cảnh họ bị ly tán, tha phương cầu thực?

    Người Do Thái hiện nay đều coi Thủy tổ của mình là ông Abraham (và cũng là của người Hồi giáo – Người Hồi giáo gọi là Ibrahim) ra đời cách đây khoảng 4000 năm, và Nhà Tiên tri Moses, ra đời cách đây khoảng 3600 năm. Ông Mosses đã dẫn dắt các nô lệ người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập và đến khu vực Bắc Israel hiện nay, thống nhất 12 bộ lạc khác để lập ra nhà nước Do Thái. Hiện nay Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái. Để dễ hình dung, nếu có một nước khác có đặc trưng tương tự như Israel, chẳng hạn Trung Quốc, thì đặc trưng nước đó sẽ là: Người Trung Quốc, nước Trung Quốc, Đạo Trung Quốc. Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

    4. Tại khu vực hiện gồm phía Bắc Ai Cập, lãnh thổ Israel, Palestine, Gioóc-đa-ni hiện nay, khu vực phía Nam Syria, và phía Đông Bắc Iraq vốn trước đây là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa bộ lạc Do Thái với các bộ lạc khác trong khu vực, cũng như giữa các đế chế lân bang với nhau như Roma, Assyria, Babilon, Ottoman… nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng ven biển Israel và khu đồi cao Jerusalem để cho được gần với Đức Chúa trời. Sau sự kiện Ngôi đền thứ nhất của người Do Thái bị đốt năm 586 trước Công Nguyên thì mục tiêu xâm lược là để chiếm miền đất thánh Jerusalem, nơi cả 3 tôn giáo (Do Thái, Thiên chúa, Hồi giáo) đều coi là đất thiêng của mình.

    Vậy tại sao trong khi hầu hết các bộ tộc du mục khác bị đồng hóa, hoặc bị tuyệt diệt, nhưng người Do Thái lại “thoát” được nạn này (tuy rằng người Do Thái cũng trải qua nạn diệt chủng Holocaust và một số cuộc truy sát tập thể trong quá khứ)? Vậy họ đã “thoát” bằng cách nào?

    5. Tại sao người Do Thái lại có truyền thống hiếu học và tỷ lệ biết chữ rất cao so với những dân du mục cùng thời? Tại sao người Do Thái lại đi tiên phong trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, luật, khoa học chính trị, công nghiệp giải trí…?

    Từ hàng ngàn năm trước công nguyên trẻ em Do Thái hầu hết biết đọc biết viết, và khi lưu lạc ở châu Âu, người Do Thái cũng có tỷ lệ biết đọc, biết viết cao hơn người bản địa. Cần nhớ, trước thời kỳ Phục Hưng cả châu Âu chìm đắm trong u muội, tỷ lệ mù chữ lên tới 80-90% dân số. Đến những năm 1930 của thế kỷ trước, người Do Thái gần như độc quyền trong lĩnh vực nghiên cứu năng lượng nguyên tử, thậm chí thời kỳ đó người ta còn gọi ngành khoa học này là “ngành khoa học Do Thái”.

    Nhìn rộng hơn, không chỉ người Do Thái quan tâm đến chuyện học hành của con cái, mà người Đông Á, kể cả Việt Nam, cũng vậy và có thể kể ra không ít các tấm gương thành công đáng ngưỡng mộ. Nhiều gia đình sẵn sàng bán nhà, bán cửa để đầu tư chuyện học hành của con cái. Tuy nhiên đạt đến đỉnh cao trí tuệ như Albert Einstein, Karl Marx, Noam Chomski và rất nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel gốc Do Thái lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Tại sao người Do Thái làm được chuyện đó?

    6. Trên thế giới đã từng có dân tộc nào bị trục xuất, sống lưu vong trên hai ngàn năm mà vẫn giữ được bản sắc, tiếng nói, chữ viết và tập tục của mình như người Do Thái không?

    7. Các giáo sĩ (Rabbi), Hội đồng giáo sĩ và những người Do Thái chính thống là những người có địa vị và tiếng nói quan trọng trong xã hội. Vậy họ có vai trò ra sao trong việc duy trì tập tục, bản sắc và “nòi giống” Do Thái?

    8. Tại sao mô hình Kibbudz của người Do Thái lại thành công và có sức sống kỳ diệu ở Israel, trong khi mô hình này lại không thành công hoặc không thể thành công ở các quốc gia khác. Cốt lõi tạo nên thành công của các Kibbudz là gì?

    9. Khi người Do Thái được thực hiện giấc mơ “Phục quốc” năm 1948, hàng trăm ngàn người Do Thái từ trên 70 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới đổ về mảnh đất Israel, họ đã sát cánh cùng nhau bắt tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp đó, sau các biến động ở Liên Xô và châu Âu trong những năm 1989-1990, 1,5 triệu người Do Thái (tức trên 1/4 dân số) trở về “cố quốc”. Mỹ, Australia, Canada cũng là quốc gia của những người nhập cư, nhưng chưa từng chứng kiến lượng lớn người nhập cư đổ về (tính theo tỷ lệ dân số) trong một thời gian ngắn đến vậy. Tuy đến từ nhiều xứ sở khác nhau, nhưng hầu hết những người Do Thái không bị gặp các rào cản ngôn ngữ và nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới. Chuyện này thực hư thế nào và được thực hiện ra sao?

    Còn rất nhiều các câu hỏi khác nữa. Vấn đề đặt ra là mô hình Israel và bài học thành công của người Do Thái (tạm bỏ qua một bên các khiếm khuyết và một số “thói hư, tật xấu” của người Do Thái) có thể học được không và áp dụng ở quy mô nào (gia đình, dòng họ, công ty, thiết chế, đất nước…)?

    Israel: Cường quốc nông nghiệp giữa sa mạc

    Do điều kiện tự nhiên, sa mạc chiếm đến 60% tổng số 20.000 km2 diện tích, nên đất đai canh tác còn lại của Israel rất ít và chủ yếu nằm ở khu vực đồng bằng ven biển. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Israel trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới, chủ yếu nhờ đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

    Đi thăm các cơ sở nông nghiệp Israel mới thấy trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp và khả năng lập kế hoạch sản xuất, dự báo thị trường của Israel đạt đến trình độ rất cao. Có lẽ dùng từ “nông dân” đối với họ là không chính xác, mà là công nhân nông nghiệp. Ngoài ra, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa 4 “Nhà”, gồm: (i) Nhà nước; (ii) Nhà khoa học; (iii) Nhà buôn; và (iv) Nhà nông. “Nhà nông” ở đây cần được hiểu là người bỏ vốn đầu tư, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp.

    Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ. Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, khó cải tạo thành đất nông nghiệp, còn đất đồng bằng tuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác. Thậm chí đất hoang mạc, nhưng tương đối bằng phẳng có thể cải tạo thành đất nông nghiệp thì cũng không được làm nhà ở trên đó.

    Israel đi tiên phong trên thế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nông nghiệp trù phú. Quy trình như sau (để đơn giản hóa): (i) San bằng đất hoang mạc, sỏi đá; (ii) Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m; (iii) Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5 năm, để biến đất chết thành đất màu; (iv) Sau quá trình cải tạo này, đất hoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất (nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất.

    Về mặt sinh thái, bước vào thế kỷ 21, Israel là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹ đất nông nghiệp.

    Tuy là nước nhỏ, có 8 triệu dân, nhưng Israel lại có hệ thống đường dẫn nước tái sử dụng dài nhất thế giới. Toàn bộ lượng nước thải được dẫn trở lại các trung tâm xử lý, lọc lại, sau đó được dẫn ngược trở lại theo các đường ống để sử dụng tưới tiêu cho nông nghiệp.

    Hệ thống ống dẫn nước tưới được dẫn đến từng khoảnh vườn, tới từng cây và việc tưới được vi tính hóa qua hệ thống điều khiển ở trung tâm về thời gian tưới, lượng nước tưới sao cho phù hợp nhất với thời tiết, độ sinh trưởng của từng loại cây. Cũng từ trung tâm, các kỹ sư nông nghiệp sử dụng luôn đường ống dẫn nước để dẫn phân bón hoặc chất dinh dưỡng cần cho cây theo định kỳ.

    Tại đầu từng khoảnh vườn, có bảng ghi chi tiết vườn trồng cây gì, giống nào, từ khi nào… Nhìn chung các cây trồng (cam, bưỏi, cà chua, ớt.. ) là những loại cây trồng có năng suất cao, đã được lai ghép cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Israel là chịu nắng, chịu khô, chịu sâu bệnh nhưng lại cho năng suất cao và chất lượng quả, trái cây tốt.

    Mỗi cây cam hoặc bưởi trông thấp như vậy nhưng lại rất sai quả và có thể cho đến vài tạ quả/cây khi đến mùa thu hoạch. Với lợi thế là trồng cây quả nhiệt đới có chất lượng cao, ổn định, hệ thống kiểm định chất lượng chặt chẽ, ở ngay sát châu Âu và cung cấp những hoa quả nhiệt đới “trái vụ” khi châu Âu bước vào mùa đông nên hoa quả Israel có rất nhiều lợi thế về giá và thị trường.

    Đây có lẽ chính là mô hình đầu tư, sản xuất, phát triển và kinh doanh nông nghiệp mà một nước nông nghiệp như chúng ta cần học hỏi và để làm giàu tại ngay chính mảnh đất quê hương mình. Nếu so với Israel, có lẽ đất đai miền Trung Việt Nam còn màu mỡ và có các điều kiện tự nhiên để sản xuất tốt hơn nhiều. Ngay một nước có nền nông nghiệp phát triển nhất ở khu vực như Thái Lan cũng có hàng ngàn thực tập sinh lao động trong các trang trại, mà thực chất là lao động xuất khẩu.

    Có điều ít người để ý là trong khi thực tập sinh Việt Nam chăm chỉ làm lụng, tiết kiệm từng đồng gửi về cho gia đình, vợ con, thì khá nhiều “lao động” Thái là các “tình báo” nông nghiệp. Họ là các kỹ sư, con cái các chủ nông trại Thái, những người nuôi chí làm giàu bằng nghề nông và sử dụng thời gian lao động tại Israel như một hình thức “khổ nhục kế”, âm thầm tìm hiểu quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý… để tìm đường khởi nghiệp làm giàu cho mình và cho nước Thái sau này.

    Vậy ta nên và sẽ làm gì? Xin nhường câu trả lời cho các bạn trẻ.

    Kinh Do Thái, lối sống, bản sắc, và tiếng Hebrew

    Có ba câu chuyện ngồi ngẫm lại thấy khá hay và cũng phần nào liên quan đến chủ đề sắp bàn dưới đây.

    CÂU CHUYỆN 1: Công việc đã xong, nhưng rủi một cái là không thể bay về được vì là ngày Thứ 7 nên hãng hàng không Israel El Al không làm việc. Nhưng lại có cái may là nhờ đó hiểu được thêm về kỳ nghỉ cuối tuần Thứ 6 và Thứ 7 (lễ Sabbath, người Do Thái đi làm từ Chủ nhật đến hết Thứ 5) của người Do Thái. Khi đi trên đường, đặc biệt ngày Thứ 7, thấy đường phố vắng ngắt và gặp không ít đàn ông Do Thái chính thống (Jewish Orthodox) mặc bộ đồ đen, đầu cũng đội mũ đen rộng vành, đứng trên vỉa hè, hai tay cầm quyển Kinh thánh Do Thái đọc lẩm nhẩm hàng tiếng đồng hồ với động tác hết sức thành kính và giữa trời nắng chang chang, trong khi đầu gật tới gật lui. Điều này không chỉ gây cho tôi sự ngạc nhiên thích thú, mà còn gợi ra rất nhiều điều.

    CÂU CHUYỆN 2: Trước đó, khi chia tay Đại sứ Dan Stav, người tháp tùng trong suốt chuyến đi, tôi có nói rằng “Khi tôi mới đến nơi, ông Đại sứ có nói Bộ Ngoại giao Israel có khoảng 1000 nhà ngoại giao. Giờ đây khi đã xong các cuộc tiếp xúc tôi chỉ đồng ý một nửa. Các ông không chỉ có 1000 nhà ngoại giao, mà đó còn là 1000 Giáo sư nữa”. Dan ngửa mặt cười ha hả. Quả thực, hiếm có nước nào, kể cả các cường quốc, lại có nhiều nhà ngoại giao nắm giữ các vị trí chủ chốt nhưng lại có trình độ khá đều tay, am hiểu sâu chuyên môn và có thể trình bày vấn đề mạch lạc như một giáo sư đại học. Không chỉ rành chuyên môn, họ còn thể hiện tác phong hết sức chuyên nghiệp, động tác mạnh mẽ, dứt khoát.

    CÂU CHUYỆN 3: Khi vào phòng làm việc với Lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc Phòng của họ, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy phòng khách bày biện khá đơn giản, không rõ chỗ ngồi của chủ và khách. Bèn hỏi cô lễ tân là ngồi thế nào, cô để “Sếp” cô ngồi đâu. Câu trả lời là: Các ông ngồi thế nào thì tùy và chỉ cần để một chỗ cho ông ấy ngồi là OK. Sau này mới thấy rõ hơn, trừ một số cuộc gặp phải tuân thủ một số nghi lễ ngoại giao bắt buộc, việc ngồi tự do (free sitting) tạo không khí thảo luận thoải mái và bình đẳng giữa chủ và khách, càng ngạc nhiên hơn khi đây cũng chính là cách người Israel ngồi khi thảo luận nội bộ!

    Quay trở lại Phần 1, tôi thấy rằng các câu trả lời về nguyên nhân thành công của người Do Thái, sự cố kết của dân tộc này đều khởi nguồn từ 3 yếu tố chính (i) cuốn Kinh Do Thái (Jewish Bible), (ii) cách thức duy trì Đạo, bản sắc và lối sống Do Thái; và (iii) tiếng Hebrew. Các vấn đề khác như “gien” và tố chất thông minh của người Do Thái; tính hiếu học, ham hiểu biết và sáng tạo; cách duy trì và tổ chức cuộc sống, đời sống xã hội một cách văn minh, lành mạnh của họ đều bắt nguồn từ 3 yếu tố trên. Và cũng thật trớ trêu, đây lại là nguyên nhân chính khiến họ bị xua đuổi, miệt thị, truy sát trong hơn 20 thế kỷ qua. Tôi cũng nghiệm thấy rất ít dân tộc, quốc gia có thể học được theo họ, trừ phi anh cũng trở thành… người Do thái như họ!

    Ta hãy đi từng vấn đề một:

    Thứ nhất, Israel là đất nước duy nhất trên thế giới được định hình bởi 4 yếu tố mang đậm chất Do Thái là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái.

    Trong các tôn giáo trên thế giới, Đạo Do Thái được ghi nhận là đạo có tuổi đời lâu thứ hai trên thế giới (ra đời cách đây khoảng 3000 năm), sau Đạo Hindu (ra đời cách đây khoảng 4000 năm). Tuy nhiên, do Hindu là đạo đa thần, nên Do Thái giáo có thể xem là đạo độc thần (Monotheistic) ra đời sớm nhất thế giới. Đạo Độc thần là đạo chỉ thờ 1 vị chúa/thần/hoặc thánh duy nhất. Đạo Do Thái chỉ thờ duy nhất Chúa trời, nên trên bàn thờ trong nhà thờ Do Thái họ trang trí đơn giản, không thờ người hoặc động vật. Họ cho rằng, người là người, dứt khoát không thể là chúa hay thánh được và chỉ có một Đức Chúa trời duy nhất. Phải chăng điều này làm cho người Do Thái cũng như sinh hoạt tôn giáo của họ “dân chủ” hơn do không bị phân tán, mất bớt quyền lực qua các nhân vật trung gian?

    Một điều rất đặc biệt là trong cuốn Kinh Torah (gồm 5 tập, ghi lại các lời của Nhà tiên tri Moses) có ghi người Do Thái được Đức chúa trời chọn (the Chosen People) để truyền đạt thông điệp của Chúa cho các dân tộc khác, dẫn dắt và khai sáng các dân tộc khác. Người Do Thái rất tin vào điều này, tin vào “sứ mạng” được Chúa giao phó. Đây có lẽ là động lực lớn nhất khiến người Do Thái luôn tìm cách đạt đến đỉnh cao của khoa học, phấn đấu đủ tầm trí tuệ “dẫn dắt” nhân loại như họ nghĩ đã được “Chúa lựa chọn”. Do đó, điểm nổi bật nhất ở người Do Thái là họ thấy mục đích cao nhất của cuộc sống là sáng tạo, chứ không chỉ là kiếm tiền, và kiếm tiền cũng như sự giàu có của họ thực ra là hệ quả của các lao động sáng tạo chứ không phải mục đích mà họ theo đuổi.

    Thứ hai, trong bất kỳ tôn giáo nào, tính “Giáo điều” đều tồn tại, duy chỉ khác nhau về mức độ. “Giáo điều” là những điều được ghi trong kinh/kinh thánh hoặc được các Bề trên giảng và được coi mặc nhiên đúng, không bàn cãi. Tuy nhiên, bản kinh Torah của người Do Thái lại rất gợi mở để mọi người suy nghĩ, khám phá. Trong 5 cuốn Kinh Torah thì có đến 4 cuốn nói về luật và 1 cuốn về các vấn đề trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Torah ghi các vấn đề trong cuộc sống, đặt ra các câu hỏi, gợi mở để suy nghĩ, nhưng lại không chỉ có một câu trả lời, mà có nhiều câu trả lời tùy thuộc bối cảnh khác nhau, và thậm chí còn để khoảng trống để mọi người cho trí tưởng tượng bay bổng với các hỏi và câu trả lời. Trong bữa cơm gia đình cuối ngày, hoặc trong ngày Sabbath, các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng đọc và tranh luận các điều ghi trong kinh thánh, và có thể chính điều này làm tăng thêm năng lực trí tuệ, làm cho họ rất giỏi về luật.

    Thứ ba, các bạn Israel cho biết, cuốn Kinh Torah giống như một cuốn sách khoa học hơn là một cuốn kinh với các “Giáo điều”. Chẳng hạn, trong Kinh Torah ghi rõ ngày Thứ 7 là ngày Chúa nghỉ ngơi, nên tất cả mọi người Israel, kể cả các nô lệ và súc vật không được làm việc trong những ngày này. Ngày lễ Thứ 7 của họ gọi là ngày lễ Do Thái (Sabbath) được xem là ngày “nghỉ tuyệt đối”, theo đó Chúa khuyên các thành viên trong gia đình dành thời gian này bên nhau, cùng trò chuyện, đi chơi, vợ chồng “yêu” nhau, gia đình cùng nhau đi đến nhà thờ (Synagogue). Trong ngày này, mọi người không được bật lửa (vì thời xa xưa, bật lửa có nghĩa là phải vào bếp nấu nướng, tức vẫn “đi làm”) và ăn đồ ăn được chuẩn bị từ hôm trước. Thậm chí thang máy trong các cao ốc cũng để “chế độ Sabath”, tức người Do Thái không dùng tay bấm nút (biểu hiện của “làm việc”), mà để thang tự chạy automatic và mở cửa trước từng tầng một từ tầng thấp nhất đến tầng cao nhất của tòa nhà. Ngày Chủ nhật là ngày làm việc đầu tiên của họ, và điều ngạc nhiên là theo cách gọi trong Kinh thánh Do Thái các ngày làm việc trong tuần theo tuần tự là các ngày “sáng tạo”, chứ không phải ngày “đi làm”.

    Chỉ bấy nhiêu thôi cũng gợi ra một số điều thú vị:

    • Ngày thứ 7 nghỉ tuyệt đối để lấy sức lao động cho các ngày khác trong tuần và đây có thể là nguồn cảm hứng cho việc đấu tranh đòi quyền của người lao động sau này;
    • Lễ Sabbath tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình (khi cả nhà cùng ngồi ăn quay quần bên nhau), và giữa các thành viên trong cộng đồng (khi hàng xóm cùng kéo nhau đến nhà thờ);
    • Là cơ sở của việc đấu tranh giành quyền bình đẳng phụ nữ (không lao động trong ngày Sabbath) sau này, cũng như quyền của động vật;
    • Vợ chồng “sản xuất” em bé trong ngày nghỉ khi tinh thần thoải mái thì đứa trẻ sau này cũng sẽ thông tuệ hơn.
    Người Do Thái coi trọng chuyện học hành

    Người Do Thái rất chú trọng đến chuyện học hành và chữ nghĩa của con cái. Cuốn Kinh Talmud từ cách đây trên 2000 năm đã yêu cầu các ông bố, bà mẹ phải dạy cho con cái biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Điều này, cũng như một số giáo lý khác trong kinh Talmud, được người Do Thái thực hiện hết sức nghiêm túc (sẽ nói kỹ sau), một phần vì thấy đúng, một phần vì sợ bị cộng đồng xa lánh. Do đó, từ cách đây trên 2000 năm người Do Thái cơ bản xóa được nạn mù chữ, với trên 90% người dân biết đọc, biết viết.

    Đối với cuộc sống của con người hiện đại thời nay, điều này là quá sức bình thường. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh người Do Thái là những người du mục, nông dân, thậm chí tha phương cầu thực mà vẫn giữ được truyền thống này, trong bối cảnh tới trên 90% dân châu Âu và các sắc dân khác ở Bắc Phi, Trung Đông ở xung quanh thời đó mù chữ thì đây quả là điều phi thường. Không chỉ thời nay người Do Thái mới được trọng dụng và phát huy vai trò, mà vào thời cực thịnh của Đạo Hồi (thế kỷ IX-XIII) sau Công nguyên, người Do Thái được người Hồi giáo tin dùng và đóng vai trò nổi trội là các thương gia biết tính toán, “ăn nên, làm ra” với hệ thống buôn bán kéo dài từ Trung Đông, qua Nam Á và Đông Nam Á, thậm chí tới Thượng Hải.

    Vậy trong điều kiện bị chiếm đóng và lưu lạc, họ duy trì được chữ viết và tiếng nói của mình ra sao trong hàng ngàn năm mà không bị mai một? Câu trả lời chính là sự sùng đạo và cuốn kinh Do Thái viết bằng tiếng Hebrew.

    Hầu hết những người Do Thái mà tôi gặp, dù là người Chính thống hay người Do Thái bình thường, đều nói rằng khi gặp nạn, vật đầu tiên và cũng là vật quý giá nhất mà người Do Thái đem theo đầu tiên đó chính là CUỐN KINH THÁNH, chứ không phải bất cứ vật dụng nào khác. Cuốn Kinh thánh Do Thái (Hebrew Bible) đối với họ vừa là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, vừa giúp họ giữ được bản sắc, vừa giúp họ có tương lai:

    Một là, sự sùng đạo, khiến người Do Thái phải đọc kinh liên tục, đọc thuộc làu, đọc ở trong nhà, đọc ngoài đường, đọc ở nhà thờ… giúp người Do Thái giữ được tiếng nói, nhận diện được ngôn ngữ đặc trưng của mình và được truyền từ đời này qua đời khác.

    Hai là, khi lưu lạc sang các xứ khác nhau, ngữ âm của họ có bị thay đổi do phát âm theo thổ ngữ địa phương, nhưng cơ bản họ vẫn hiểu được nhau dù lang bạt hàng ngàn năm, và tới tận 73 quốc gia và lãnh thổ khác nhau. Điều đó giải thích tại sao người Do Thái từ “tứ xứ” đổ về, nhưng đã nhanh chóng gắn kết với nhau ngay sau khi Israel được tái lập năm 1948.

    Ba là, không chỉ thạo tiếng Hebrew, mà người Do Thái còn thạo tiếng bản địa nơi họ sinh sống. Như vậy trên thực tế, người Do Thái sử dụng thông thạo hai ngoại ngữ từ rất sớm. Khoa học đã chứng minh, những người hoặc nhóm cộng đồng sử dụng được trên 1 ngoại ngữ thường có chỉ số IQ lớn hơn nhóm, hoặc người sử dụng ít ngôn ngữ hơn. Không chỉ vậy, kinh thánh không chỉ là phương tiện duy trì ngôn ngữ, mà còn giúp họ mở mang các kiến thức luật, kinh tế và khoa học thông thường ở trong đó.

    Bốn là, niềm ao ước tột cùng trở về Jerusalem cũng được ghi trong Kinh thánh. Thời cổ đại, dù muốn đi đâu, làm ăn gì, thì người Do Thái cũng quy ước về quần tụ tại Jerusalem để hành lễ ít nhất là 4 lần 1 năm. Đến nay, truyền thống đó vẫn được duy trì và người Do Thái ở Israel thường về Jerusalem mỗi năm một lần, còn người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới thì về ít nhất 1 lần trong đời. Kinh Thánh Do Thái ra đời trong bối cảnh người dân Do Thái đã từng mất tổ quốc, mất Jerusalem trong một thời kỳ dài từ hàng trăm năm trước đó. Do đó, Kinh Thánh nhắc nhở người Do Thái rất kỹ về điều này. Truyền thống có từ cả ngàn năm nay và đến nay vẫn được duy trì trong cộng đồng Do Thái, là khi gặp nhau, hoặc khi viết thư, họ thường nói đến việc “sớm hẹn gặp nhau tại Jerusalem”, “hẹn gặp tại Jerusalem vào năm tới”. Do đó, ước nguyện trở về Jerusalem, lấy lại Jerusalem luôn cháy bóng trong mỗi người Do Thái và họ không bao giờ quên điều này khi tha hương.

    Đạo Do Thái và việc duy trì nòi giống

    Việc thực hiện nghiêm ngặt các phong tục tập quán của Do Thái giáo giúp người Do Thái sàng lọc gien “xấu”, lấy và nhân giống gien “tốt”. Thực ra, không chỉ người Do Thái làm vậy, mà các dân tộc khác như ngoài Hoa và Việt Nam cũng có những vần thơ để chọn người xứng đôi, vừa lứa như “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, “Nữ tuệ tam tài nguyên thị đối” (Gái giỏi trai tài nom thật đối), v.v…. Chắc chắn đây không chỉ là chuyện “tâm đầu, ý hợp” của trai gái, mà còn liên quan đến việc duy trì nòi giống sau này.

    Nếu như người Đông Á chỉ dừng lại ở mức “khuyên răn” thì người Do Thái đã “luật hóa” và “hệ thống hóa” được việc chọn lọc có chủ đích thay cho việc chọn lọc tự nhiên, vô thức để “hoàn thiện” và “phát triển” gien của mình:

    Một là, trong Đạo Do thái, Giáo sĩ (các Rabbis) là những người được chọn từ những người thông minh nhất. Các Rabbis là người diễn giải Kinh thánh có uy tín và trọng lượng nhất, duy trì các giá trị “chính thống” và được xã hội hết sức trọng vọng. Tuy là thầy tu, nhưng các Rabbis vẫn có con như những người bình thường, và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong xã hội, nên họ dễ dàng chọn hôn thê và hôn thê được họ ưu tiên chọn thường là con cái của các học giả (scholars), rồi sau đó mới đến con các nhà buôn.

    Hai là, không chỉ các Rabbis chọn như vậy, kinh thánh Do Thái thậm chí còn khuyên mọi người là nếu có tiền của thì hãy tìm cách cho con cái của mình lấy con gái của các học giả. Kinh thánh khuyến khích người Do Thái sinh nhiều con, cho rằng sinh 13 con thì sẽ có nhiều may mắn. Nhưng trên thực tế lại có các “phanh hãm” đối với người nghèo, người ít học là sinh ra con cái nhưng phải đảm bảo các điều kiện kinh tế và tài chính. Chính điều này làm cho người nghèo, người ở tầng lớp thấp không “sinh tràn lan”, mà sinh có trách nhiệm và số người này chiếm tỷ lệ ngày một ít đi trong so sánh tương đối với những người có “gien” tốt, hoặc có điều kiện vật chất tốt hơn. Trải qua hàng ngàn năm chọn lọc có điều kiện như vậy nên việc có được nhiều gien tốt trong người Do Thái là điều dễ hiểu.

    Ba là, trong quan niệm Do Thái chính thống, và ngay tại các khu vực người Do thái chính thống sinh sống hiện nay tại Israel, phụ nữ, con gái không bao giờ được “bén mảng” đến Nhà thờ. Trái lại, đàn ông dù bận công việc đến mấy cũng tìm cách đến nhà thờ vào lúc 6h chiều hàng ngày để làm lễ trước khi về nhà. Tuy nhiên, phụ nữ Do Thái lại được xem là có “quyền năng” tuyệt đối trong việc duy trì nòi giống. Con của một phụ nữ Do Thái đương nhiên được coi là người Do Thái, còn con của người đàn ông Do Thái với một phụ nữ không phải Do Thái thì chỉ được coi là người Israel (nếu như sống ở Isael), chứ không được coi là người Do Thái. Thời xa xưa, việc gia đình người Do Thái có một cô con gái lấy chồng không phải người Do Thái bị coi là “nỗi nhục” của cả gia đình và dòng họ, và người bố “từ con” bằng cách đào một nấm mộ giả coi như đứa con mình dứt ruột đẻ ra đã chết.

    Nhiều nhà thần học mà tôi có điều kiện tiếp xúc cho rằng Đạo Do Thái hiện là một trong số ít tôn giáo “giữ” được “kỷ cương” khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh câu chuyện này và cần nghiên cứu sâu hơn mới có câu trả lời thỏa đáng. Quả thực, bất kỳ tôn giáo lớn hoặc quan trọng nào đều đứng trước 3 thách thức lớn trong quá trình phát triển, đó là:

    • Duy trì được sự thống nhất, giữa các dòng, nhánh, xu hướng khác nhau trong cùng một tôn giáo, duy trì một đức tin chung trong thể thống nhất. Ví dụ, sự phân liệt rõ nhất thể hiện ở Đạo Hồi hiện nay với các dòng Shia, Suni, rồi nhánh Wahabis thuộc Suni, nhánh Alewite, Druze thuộc dòng Shia…, mà dòng, nhánh nào cũng cho mình mới là “chính thống”, còn những dòng, nhánh khác là “ngoại đạo”, cần bị loại bỏ để làm “trong sạch” Đạo Hồi;
    • “Đồng hành” cùng xã hội hiện đại, nhưng vẫn duy trì các giá trị, các nguyên tắc “cốt lõi” (tức tính chất “chính thống”, mặc dù việc diễn giải và tự nhận các tính chất này còn nhiều điều phải bàn);
    • Tránh việc tạo ra một tầng lớp “tăng lữ” mới, với các đặc quyền, đặc lợi, hủy hoại chính tôn giáo của mình.
    Do Thái giáo cũng không phải là ngoại lệ, nhưng ít gặp các “vấn nạn” ở trên hơn, do:

    • Ngay khi ra đời, Do Thái giáo đã không có “vấn nạn”, đưa đến sự kình chống nhau sâu sắc giữa các dòng tu. Đạo Hồi chẳng hạn, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohamed qua đời, sự giằng xé giữa những người cho rằng cần phải chọn người thừa kế hoặc có dòng màu trực hệ để “hướng đạo” hạy chọn những người có khả năng nhất trong việc kế thừa và phát triển di sản của Mohamed đã đưa đến việc phân chia Hồi giáo thành 2 nhánh lớn là Shia và Suni. Do Thái giáo cũng có những dòng hết sức cực đoan, thậm chí không công nhận Nhà nước Israel, nhưng họ vẫn hợp tác, và không đi đến chỗ đối đầu nhau bằng bạo lực. Những người có tác dụng giữ sự hòa hợp và thống nhất Đạo Do Thái là các giáo sĩ và Hội đồng giáo sĩ.
    • Trong hệ thống luật dân sự của Israel, còn có luật Do Thái Halakha tương tự như luật Sharia của Hồi giáo mà một số nước như Arab Saudi, Brunei… áp dụng. Halakha bao gồm 613 điều răn (commandments) với hệ thống tòa án riêng, và các “bản án” tôn giáo đối với người có đạo thậm chí còn đáng sợ và nghiêm khắc hơn các bản án dân sự. Luật Halakha tồn tại trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, can thiệp sâu và điều chỉnh rất nhiều quy tắc, tập tục của đời sống xã hội. Nếu không tuân theo Halakha, các Rabbis có quyền rút “Phép thông công” (excommunicate) – tương đương với một bản án tử hình – và điều này cũng đồng nghĩa với việc khi qua đời, linh hồn người chịu hình phạt đó không được bay lên Thiên đàng.
    • Người theo Đạo chính thống Orthodox tin và tự chọn cho mình lối sống theo các giá trị truyền thống và nguyên tắc nguyên thủy. Tuy nhiên, họ không tìm cách áp đặt lối sống của mình hay kỳ thị những người thế tục. Bản thân các Giáo sĩ (Rabbis) và những người Orthodox không được hưởng đặc quyền, đặc lợi, họ thỏa mãn với cuộc sống thanh bạch của mình. Trong đạo Hồi chẳng hạn, những người Wahabbis cũng có cuộc sống thanh bạch, khắc khổ, nhưng điều nguy hại là họ lại tìm cách áp đặt lối sống của mình lên những dòng, nhánh khác.
    • Khác với các Đạo giáo khác là tìm mọi cách truyền đạo để mở rộng thành viên, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để trở thành một người Do Thái rất khó, phải có căn cứ, bằng chứng xác nhận tới ít nhất 4 đời trước đó và quy theo mẫu hệ. Họ cho rằng, đã là “thiên sứ nhà trời”, “được chúa chọn” thì chỉ có ít người được hưởng vinh dự, chứ đâu có thể kết nạp tràn lan, cứ vào đến synagogue (nhà thờ Do Thái) là trở thành Do Thái ngay được.
    Trong những điều kiện khắc nghiệt thời kỳ Đế quốc La mã là bá chủ khu vực Trung Đông, để tránh bị truy đuổi và tận diệt, người Do Thái buộc phải cải đạo sang đạo Thiên chúa. Tuy nhiên họ lại cải đạo trở lại thành người Do Thái khi điều kiện cho phép. Bản thân Hitler là người rất căm thù dân Do Thái, một cộng đồng đoàn kết nhưng sống tách biệt với người bản xứ. Trong con mắt Hitler, đã sinh ra là một người Do Thái thì sẽ luôn luôn là một người Do Thái, cải đạo chẳng giúp ích gì, và quyết truy sát 1 người nếu tìm được bằng chứng trước đó 4 đời họ là người Do Thái.

    Tản mạn thay lời kết: Chuyện ăn uống và tố chất của người Do Thái

    Đồ ăn Kosher (Kosher food) là đồ ăn được chế biến và ăn theo kiểu Do Thái. Đối với người Do Thái Chính thống, việc sử dụng Kosher là điều gần như bắt buộc, còn đối với người thế tục thì tùy lựa chọn. Các canteen phục vụ tai các cơ quan chính phủ Israel như Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng nghiễm nhiên là các nhà hàng phục đồ ăn Kosher. Đồ ăn Kosher hiện ngày càng trở nên phổ biến tại Israel và trên khắp thế giới và không chỉ người Do thái chính thống mới dùng. Hiện nay, có 100.000 loại thực phẩm Kosher khác nhau được bán trên phạm vi toàn thế giới.

    Vậy Kosher là gì và ăn như thế nào? Trong Halakha quy định rất rõ, chi tiết và khá phức tạp, nhưng chung quy lại có một số điểm chính:

    Về các thức ăn Kosher:

    • Một số con vật ăn được: chỉ ăn những con vật có móng chẻ, ăn cỏ và nhai thức ăn lại như bò, dê, cừu. Các con vật không ăn được là lợn, ngựa, và lạc đà. Lợn tuy có móng chẻ nhưng không nhai lại, còn ngựa, lạc đà tuy ăn cỏ nhưng không có móng chẻ.
    • Ăn các loài có cánh như gà, vịt, ngỗng, bồ câu… Không ăn các loài chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng, đại bàng.
    • Ăn các loài cá có vây và vẩy như các hồi, cá ngừ, cá trích… Không ăn các con cá không vảy như lươn, các trê, cá tầm, tôm, tép, nghêu sò, ốc hến, các loài bò sát, côn trùng.
    • Các thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, ngũ cốc, trứng gà vịt, mật ong, rượu vang, chè, café.
    Về cách ăn đồ Kosher:

    • Chỉ uống sữa và các vật phẩm chế biến từ sữa của các con vật Kosher như bò, dê, cừu. Chỉ được dùng sữa và các vật phẩm chế từ sữa 6 tiếng sau khi dùng thịt, hoặc 30 phút trước khi ăn thịt chứ không được ăn, uống đồng thời. Đồ chế biến sữa và thịt, kể cả chậu rửa bát nhất thiết phải dùng riêng.
    • Lúa mì, gạo, và một số loại rau, củ nhất định thì ăn được. Không ăn, uống nước trái cây hoặc đồ chế biến từ các loại loại quả như cam, quýt, bưởi… dưới 3 tuổi.
    • Không ăn nội tạng động vật hay gia cầm; không ăn phần phía sau của con thú và không ăn thịt, cá đồng thời.
    • Khi ăn thịt phải lấy hết sạch máu và người chế biến phải học cách giết con vật sao cho con vật chết nhanh nhất, không đau đớn, nhưng lại ra được hết tiết. Thậm chỉ còn phải rửa sạch và ngâm miếng thịt trong nước 30 phút trước khi chế biến để ra hết máu,
    • Các nhà hàng Kosher nhất thiết phải do đầu bếp Do thái chính thống trực tiếp nấu nướng và bị phạt rất nặng, kể cả tước giấy phép kinh doanh, hành nghề nếu vi phạm.
    Có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào có kiểu ăn “kiêng, khem” phức tạp và rườm rà như người Do Thái chính thống. Các nhà hàng phục vụ đồ ăn Kosher thường đắt hơn từ 20-30% so với nhà hàng thông thường, vậy mà lúc nào cũng đông khách ăn.

    Theo tôi, đây không chỉ là đồ ăn kiêng của người Do Thái, mà THỰC CHẤT KOSHER LÀ ĐỒ ĂN, CÁCH ĂN THÔNG MINH, KHOA HỌC, THẬM CHÍ LÀ LÝ TƯỞNG không chỉ của người Do Thái, mà của con người nói chung. Nếu chỉ khuyên nhủ thông thường sẽ ít người theo, nhưng khi khoa học được “phủ” một lớp màu tôn giáo thì Kosher đã trở nên thành món ăn kỳ ảo, mê hoặc và quyến rũ.

    Tạm cắt nghĩa một số thứ:

    • Theo người Do Thái, con vật cũng như con người đều có linh hồn. Nếu làm cho con vật chết đau đớn thì nó sẽ oán trách và cả người thịt lẫn người ăn nó đều bị “quở phạt”. Do đó, giết nhanh để con vật mau chóng được hóa kiếp lên thiên đàng.
    • Khi con vật cắt được tiết nghĩa là con vật còn tươi, chứ không phải ăn đồ ôi. Thú tính và sự ngu muội của con vật nằm ở “dòng máu”, và ăn thú vật hay gia cầm có tiết sẽ làm con người lâu dần nhiễm “thú tính” và đầu óc trở nên trì độn, còn nòi giống đi đến chỗ thoái hóa.
    • Thịt ăn cùng với cá không còn tác dụng bổ dưỡng nữa, mà triệt tiêu lẫn nhau. Còn trái cây trong 3 năm đầu thường chứa nhiều chất, độc tố có hại cho cơ thể.
    • Uống sữa sau khi ăn thịt không tốt cho sức khỏe vì bản thân thịt nhiều chất đạm, lâu tiêu lại có thêm chất bổ dưỡng khác nữa làm cho cơ thể không thể hấp thụ nổi và dễ sinh bệnh.
    • Trong điều kiện thiên nhiên hết sức khắc nghiệt của vùng Bắc Phi – Trung Đông, việc ăn uống tốt giúp người Do Thái chống chọi tốt hơn với khí hậu khắc nghiệt, làm cho không chỉ thể trạng khỏe khoắn mà trí tuệ của họ cũng hơn người. Các cụ nhà ta chả nói bệnh vào từ mồm đó sao?
    Như vậy, trải qua cả ngàn năm, với cuốn Kinh Thánh Hebrew, người Do Thái không chỉ thành công trong việc bảo tồn, mà còn phát triển bản sắc, văn hóa, tôn giáo của mình. Không những vậy, thông qua ăn uống, cuộc sống tinh thần lành mạnh, làm cho “gien Do Thái” vốn đã ưu việt, ngày một trở nên ưu việt hơn. Khác với các tôn giáo khác, người Do Thái không tìm cách phát triển tôn giáo của mình qua con đường truyền đạo như Đạo Hồi, Đạo Thiên chúa, hay Đạo Phật, mà tìm cách giữ sao cho Do Thái giáo càng “thuần khiết” càng tốt. Phải chăng những người được Chúa “chọn mặt gửi vàng” đâu có thể phát triển tràn lan được!

    Có lẽ chính vì vậy mà cách đây từ trên 3.000 năm Nhà tiên tri Moses của người Do Thái đã lường trước điều này khi ông, ngay từ khi đó, đã hình dung ra rằng nếu người Do Thái làm theo các lời răn dạy của ông thì họ sẽ trở thành đối tượng bị săn đuổi và tận diệt của nhiều sắc dân khác và vì vậy đã chuẩn bị cho họ hành trang đầy đủ trong cả ngàn năm thiên di trước khi “trở về Jerusalem”. Điều ngạc ngạc nhiên là người Do Thái không than thân, trách phận mà họ coi đó là “sự thử thách” của Chúa trời đối với dân tộc Do Thái!

    TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết tổng hợp những ghi chép đăng lần đầu trên trang Facebook của tác giả về chuyến công tác tới Israel gần đây, thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.
     
  6. Trùm

    Trùm Administrator Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    993
    Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

    Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.

    Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

    Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm.

    Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ: Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

    [​IMG]
    Nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán.

    Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

    • Người Do Thái và giải Nobel
    • Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái?
    • Người Do Thái dạy con như thế nào?
    Vai trò của bà mẹ Do Thái
    Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

    Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

    Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng - người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

    Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

    Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

    Hệ thống giáo dục phổ thông

    Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

    [​IMG]
    Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học.

    Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

    Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD.

    Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

    Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức
    Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới - từ năm 64 đầu Công nguyên - mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

    Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

    Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.
     
  7. Trùm

    Trùm Administrator Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    993
    Bí quyết nuôi dạy con của người Do Thái

    Do Thái là một trong những dân tộc ưu tú và xuất sắc trên thế giới, đã sản sinh ra những danh nhân vĩ đại cho nhân loại, rất nhiều doanh nhân thành đạt và là dân tộc thông thạo nhiều ngoại ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng người Do Thái rất coi trọng giáo dục gia đình, rất quan tâm đến thuyết Thai giáo học và Giáo dục sớm. Điều đặc biệt hơn là nó đã được lưu truyền lại trong kinh Torahn và kinh Talmudh của người Do Thái từ lâu đời. Theo nhà giáo dục người Do Thái – Bawe “Trong cuộc đời con người không có gì quan trọng hơn là giáo dục trẻ từ nhỏ, chúng ta nên tìm mọi cách để trí tuệ, khả năng của trẻ được phát huy tối đa”. Vì vậy, cha mẹ người Do Thái qua nhiều thế hệ luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phú cho con và cho rằng trẻ từ 0-6 tuổi là thời kỳ đại não phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm là phát triển tiềm năng cho con, đặt nền tảng vững chắc cho con sau này. Họ luôn dạy con: “Người có trí tuệ là người hạnh phúc”, “Địa vị của học thức còn cao hơn địa vị của Quốc vương”, “Khi nhà cháy con nên đem theo trí tuệ”… Với người Do Thái sách vở không chỉ là “kho báu” mà còn có nhiều điều bổ ích, nên nó luôn ngọt ngào với tất cả các gia đình. Họ luôn quan tâm giáo dục ngôn ngữ, nhiều ngoại ngữ, rèn luyện khả năng ghi nhớ cho trẻ từ nhỏ, giải đáp mọi thắc mắc, kích thích trẻ hứng thú học tập và tìm hiểu kiến thức, thế giới xung quanh trẻ. Gần đây một số nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng chính việc sử dụng nhiều ngôn ngữ cùng một lúc, nói ngôn ngữ đan xen đã, kích hoạt sự kết nối các nơ-ron thần kinh trong não bộ của trẻ. Nội dung:

    I. Tôn thờ trí tuệ

    Cha mẹ người Do Thái luôn dạy con từ khi còn nhỏ ; “Người có trí tuệ là người hạnh phúc”, “Địa vị của học thức còn cao hơn địa vị của Quốc vương”…Họ không chỉ coi trọng trí tuệ, mà còn có nhiều phương pháp để tích luỹ trí tuệ, bồi dưỡng trí tuệ cho trẻ, vận dung nhiều biện pháp giúp trẻ học tập hiệu quả.

    1. Khi nhà bị cháy, con cần mang theo trí tuệ. Người Do Thái luôn sùng bái trí tuệ và tôn trọng kiến thức. Họ luôn dạy con cái “Nếu nhà mình bị cháy, con cần mang theo trí tuệ của mình, vì trí tuệ sẽ mãi mãi ở bên cạnh con, không ai có thể lấy trí tuệ của con ”, dạy con cái biết quý trong sách vở, chăm chỉ học hành để có kiến thức uyên bác. Họ không chỉ cổ vũ, động viên mà còn bồi dưỡng, hướng dẫn con khả năng tự học và tiếp nhận kiến thức thông qua nhiều hình thức như thu thập tài liệu, lựa chọn tài liệu hợp lí, giao lưu với nhiều người để học hỏi, kiến thức không phải chỉ có trong sách mà còn ở trong cuộc sống hàng ngày.

    2. Từ nhỏ con đã học thuộc Kinh Thánh. Dựa vào trạng thái ý thức ghi nhớ khác nhau, người Do Thái chú ý và áp dụng hai loại: Một là ghi nhớ vô thức, hai là ghi nhớ có ý thức, trẻ càng nhỏ khả năng ghi nhớ vô thức càng cao (Điều này đã có trong bài “Giáo dục sớm” và “Đợi đến mẫu giáo thì đã muộn”). Cha mẹ người Do Thái đã và luôn biết cách vận dụng hai loại ghi nhớ này để dạy trẻ nhỏ. Họ cho trẻ nhỏ học thuộc “Kinh thánh Cựu Ước”, họ không chỉ muốn trẻ hiểu biết về văn hoá của dân tộc mình, mà còn giúp chúng bồi dưỡng “hệ thống trí nhớ thiên tài”. Ngoài việc nâng cao trí nhớ cho trẻ, họ còn quan tâm đến việc kết hợp suy nghĩ và ghi nhớ để kích thích sự sáng tạo của trẻ và dạy chúng chỉ nên nhớ những điều quan trọng.

    3. Con cần học ngoại ngữ từ nhỏ. Là dân tộc có rất nhiều thương gia tài giỏi, ngoài khả năng phi thường trong kinh doanh, họ đều có một điểm chung là rất giỏi ngoại ngữ. Người Do Thái rất coi trọng ngoại ngữ và thường nói “Có thể nói được vài thứ tiếng, giá trị của bạn bằng mấy người cộng lại”. Vì vậy, họ luôn tận dụng mọi điều kiện thuận lợi nhất để trẻ học và nắm vững ngoại ngữ một cách hiệu quả như kích thích hứng thú học ngoại ngữ thông qua trò chơi, học ngoại ngữ thông qua những vật dụng hàng ngày và tạo không khí, môi trường học ngoại ngữ trong gia đình.

    Các nhà nghiên cứu về người Do Thái kết luận rằng: Người Do Thái trộn tiếng mẹ đẻ vào những ngôn ngữ mới muốn học, ngôn ngữ mới đó sẽ trở nên thân thuộc. Thay vì cảm giác chán nản, người học luôn có cảm giác chủ động, bộ não được kích thích bởi nhiều thách thức thú vị.

    Việc học ngôn ngữ mới theo cách lồng ghép này sẽ trở thành một cuộc đua đầy trí tuệ và hấp dẫn, khi họ luôn thách thức bản thân phải nhớ được nhiều hơn, nói được dài hơn và nhuần nhuyễn hơn những câu trong ngôn ngữ mà họ đang học, đồng thời thể hiện được sự kiên nhẫn cao hơn trong học tập.

    Sau cùng phần thưởng cho những lần tập luyện hào hứng và kiên trì này sẽ là việc tận hưởng cảm giác tự do và độc lập trong việc giao tiếp bằng ngoại ngữ một cách dễ dàng. Như vậy, chỉ với phương pháp học ngoại ngữ hiệu quả được áp dụng hàng ngàn năm nay mà người Do Thái đã luôn làm chủ mọi ngôn ngữ mà họ muốn chinh phục. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, việc học nhiều ngôn ngữ ngay từ khi còn nhỏ đã tạo sự kích thích, tăng khả năng kết nối các nơ-ron thần kinh là một trong những nguyên nhân tạo cho người Do Thái được nằm trong những chủng tộc thông minh và ưu tú trên thế giới.

    4. Sách vở luôn ngọt ngào. Người Do Thái cho rằng, trong sách không chỉ có “kho vàng” mà còn có rất nhiều điều bổ ích nên họ rất yêu sách. Đặt tủ sách ở đầu giường là truyền thống, là thái độ sùng kính đối với sách và cũng để đọc sách thường xuyên hơn. Họ luôn muốn con cái ham đọc sách từ nhỏ và muốn trẻ giữ được đam mê này. Vì vậy vào mỗi buổi tối, cả gia đình thường ngồi đọc sách; đặt mua định kì tạp chí hoặc báo, đồng thời giám sát việc đọc của trẻ; hàng tuần đưa trẻ đến thư viện, bảo tàng, triển lãm làm tăng kiến thức và hứng thú học tập cho trẻ; cha mẹ người Do Thái luôn là tấm gương tốt để truyền đạt kiến thức và hứng thú đọc sách cho con cái.

    5. Học bất cứ lúc nào cũng không muộn. Người Do Thái thích câu nói của Labi “Trong vườn cây giáo dục, không có cây kết quả sớm, cũng không có cây kết quả muộn, chỉ có cây không ngừng mở rộng trí tuệ và tư tưởng” và họ luôn coi danh ngôn của Seqier làm lời răn dạy bản thân và cổ vũ người khác học tập “Lúc này không học, bao giờ mới học”. Vì vậy với họ, việc học tập không phụ thuộc vào tuổi tác, không phụ thuộc vào thân phận giàu nghèo, ai có ý chí đều nên đọc sách để học hỏi kiến thức. Bất cứ ở đâu, lúc nào, người Do Thái đều coi kiến thức và trí tuệ là mục đích hướng tới, với họ, sách vở là nguồn dinh dưỡng của tiền bạc và sự sống.

    6. Thói quen đặt câu hỏi trong khi học. Đặt câu hỏi trong quá trình học tập chứng tỏ trẻ có suy nghĩ, nếu bản thân trẻ tự tìm ra đáp án đúng sẽ kích thích sự say mê học tập, kích thích sự phát triển tư duy của trẻ. Tất nhiên, muốn trẻ có thói quen đặt câu hỏi, cha mẹ cần tích cực trả lời các câu hỏi của trẻ một cách kiên nhẫn; hướng dẫn trẻ đặt câu hỏi, kích thích sự tò mò và quan sát cuộc sống xung quanh và thường ngày cha mẹ cần đặt ra nhiều câu hỏi cho trẻ.

    7. Trí tuệ của con bắt đầu từ sự chú ý. Người Do Thái rất đồng tình với câu nói của Labi “Thiên tài bắt nguồn từ khả năng chú ý. Đây là cánh cửa dẫn đến thế giới tri thức, không có cánh cửa này nhiều tri thức khó có thể được trẻ nắm bắt”. Chú ý là một hiện tương tâm lí, trẻ sẽ phát triển dần từ chú ý vô thức (sau khi sinh) thành khả năng chú ý có ý thức. Nếu trẻ thiếu khả năng tập trung chú ý, việc học tập, kết quả công việc của trẻ bị ảnh hưởng và ngược lại nếu trẻ làm việc tập trung và chuyên tâm, kiến thức và trí tuệ của trẻ sẽ được nâng cao. Cha mẹ người Do Thái luôn căn cứ vào các quy luật phát triển tâm lí để bồi dưỡng khả năng chú ý có ý thức và giúp trẻ tập trung chú ý hơn. Để làm việc đó họ chú ý loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài, tạo ra một môi trường học tập tốt; không để trẻ quá mệt mỏi bằng cách thay đổi cách thức học tập; kịp thời làm tăng sự tự tin cho trẻ bằng những lời cổ vũ hoặc quà tặng; bổ sung dinh dưỡng hợp lý cho trí não; và quan tâm đảm bảo thời gian và chất lượng giấc ngủ cho trẻ.

    8. Suy nghĩ mang lại kiến thức và trí tuệ cho con. Người dân Do Thái có câu “Không là con lừa cõng trên lưng nhiều sách”, vì vậy họ luôn dạy trẻ không bắt chước máy móc, không ỷ lại những kiến thức đã có mà phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi để biến kiến thức thành trí tuệ và năng lực của mình. Để thực hiện được điều đó họ luôn khuyến khích con hoài nghi, đặt câu hỏi và suy nghĩ, tra cứu tìm câu trả lời; làm cho cuộc sống của con thêm phong phú như cùng đọc sách, cùng thảo luận, tăng giao lưu, tiếp xúc… nhằm kích thích trí tò mò và khám phá ; hạn chế tính ỷ lại của trẻ.

    9. Khuyến khích bé trải nghiệm. Việc để trẻ trải nghiệm có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức cho trẻ, giúp trẻ phát huy năng lực và trí tuệ của bản thân. Hộp bút màu là món quà hay được người mẹ Do Thái tặng con, nó giúp trẻ phân biệt, sử dụng màu sắc và thường tổ chức các cuộc thi hội hoạ. Đồ chơi không chỉ để chơi mà còn có thể tháo lắp để tìm tòi, đó là cách người Do Thái khuyến khích trẻ tìm tòi nghiên cứu từ khi còn nhỏ.

    II. Tự lập tự cường

    1. Tin vào bản thân mới có thể sớm tự lập. Tin tưởng và dựa vào bản thân là biểu hiện cao nhất của sự tự lập, nó giúp trẻ không lùi bước trước khó khăn và dũng cảm tiến về phía trước; tự lập giúp trẻ mạnh dạn, nỗ lực vươn tới thành công và để đạt được ước mơ. Vì vậy họ luôn rất yêu con nhưng không nuông chiều con và luôn có nguyên tắctôn trọng quyết định của con và bồi dưỡng ý thức độc lập cho con; rất quan tâm giáo dục kĩ năng sống tự lập và coi đó là tiền đề giúp trẻ nhận thức ý nghĩa sống dựa vào năng lực bản thân mà không dựa dẫm vào bố mẹ.

    2. Bí quyết để có khả năng sinh tồn mạnh mẽ. Một dân tộc sinh tồn trong khó khăn, gian khổ, ngoài trí tuệ tuyệt vời, họ đều nhận thức rõ về điều kiện sống và địa vị sinh tồn của dân tộc mình. Họ tồn tại được đến ngày nay là bởi phẩm chất kiên cường, ý chí bất khuất, không chịu bỏ cuộc để từng bước vươn lên. Người Do Thái thường nói “Học cách sinh tồn từ việc nhỏ, học khả năng khác từ việc lớn”. Họ luôn quan tâm bồi dưỡng khả năng kiên trì, bền bỉ và có trách nhiệm cho con cái từ những việc nhỏ; luôn kiên quyết từ chối những yêu cầu không hợp lý của con; giúp con đặt kế hoạch và mục tiêu học tập hợp lí và khoa học; tạo cơ hội khuyến khích trẻ làm một việc gì đó lâu dài.

    3. Con bắt đầu lao động từ lúc 2 tuổi. Trong quan niệm của người Do Thái, một người muốn thành đạt cần thông minh và chăm chỉ. Vì vậy họ luôn quan tâm bồi dường tình yêu lao động cho con, nhiều trẻ em ngay từ nhỏ đã được hướng dẫn làm những công việc nhà một cách phù hợp. Họ sắp xếp công việc cho trẻ, quan tâm giao những việc trẻ có năng lực, thích làm để tăng khả năng và làm những việc trẻ hay mắc lỗi, sợ sệt để rèn luyện. Tất nhiên không thể kỳ vọng vào kết quả hoàn hảo từ trẻ nhỏ, họ không bao giờ trách mắng con, luôn khích lệ và khen ngợi con cái.

    4. Niềm tin. Người Do Thái thường dạy con “Tự tin giúp con người cố gắng khắc phục khó khăn, chiến thắng thất bại, đạt được thành công. Nếu con có đủ tự tin và luôn cố gắng, con sẽ làm được mọi việc”. Để bồi dưỡng sự tự tin cho trẻ, họ quan tâm loại trừ tâm lí tự ti , thông qua việc tôn trọng con cái, đứa con biết rằng bản thân mình rất quan trọng; cha mẹ luôn cổ vũ động viên trẻ thông qua những tấm gương người thành đạt; khen ngợi và cổ vũ thích hợp; không làm giúp trẻ; và giúp trẻ thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của mình, phân tích nguyên nhân tạo ra khuyết điểm đó và tìm cách khắc phục. Sự tự tin trong trẻ không những giúp trẻ miễn dịch với cái xấu mà nó giúp cho trí tuệ của trẻ được phát ra giống như mạch nước ngầm trong lòng đất sẽ phát lộ và phun trào như dòng suối.

    5. Trừng phạt con hợp lí sẽ mang lại hiệu quả đối với con. Trẻ còn nhỏ không tránh khỏi những sai xót, việc nhắc nhở và trừng phạt là cần thiết. Tuy nhiên không được thiếu tôn trọng trẻ, không được trách mắng mù quáng và trừng phạt không đúng cách sẽ ảnh hưởng đến sự trưởng thành của trẻ. Chỉ có những biện pháp trừng phạt hợp lí, khoa học trách phạt nhưng vẫn tôn trọng trẻ, mới giúp trẻ giảm bớt những hành vi không đúng. Cha mẹ người Do Thái được hướng dẫn đặt và trả lời 10 câu hỏi trước khi trừng phạt trẻ: 1. Mục đích của sự trùng phạt này là gì?; 2. Cách phạt này có ngăn chặn được hành vi không đúng của trẻ không? 3. Cách phạt này có giúp trẻ hiểu được hành vi sai trái của mình không? 4. Tại sao mình lại trừng phạt con, có phải vì mình đang tức giận không? 5. Có phải xuất phát từ sự kích động mà mình trừng phạt con không? 6. Khi không tức giận, mình có trừng phạt con như vậy không? 7. Cách phạt này có làm con cảm thấy xấu hổ hoặc tủi thân không? 8. Không còn cách nào khác ư? 9. Cách trừng phạt này là một phần của kế hoạch ư? 10. Có phải mình luôn trừng phạt con như vậy?

    6. Con là một đứa trẻ dũng cảm. Các bậc cha mẹ đều mong muốn con mình dũng cảm, mạnh dạn, không nhút nhát, sợ bóng tối, sợ “ma quỷ”, dám đương đầu với khó khăn, không ỷ lại vào người khác, bình tĩnh tự tin và suy nghĩ tìm cách giải quyết khó khăn để đạt mục tiêu. Để đạt được mong muốn đó, cha mẹ người Do Thái luôn tự mình xây dựng tấm gương tốt cho trẻ noi theo; luôn tôn trọng trẻ, tìm nguyên nhân để giải thích và lựa chon cách thích hợp giúp trẻ không sợ hãi và loại bỏ tâm lý sợ hãi; quan tâm bồi dưỡng tính tự lập, độc lập giải quyết vấn đề cho trẻ.

    7. Dũng cảm thể hiện bản thân. Rèn luyện cho trẻ thói quen dũng cảm thể hiện khả năng của bản thân, không chỉ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập với tập thể, thích ứng với xã hội, mà còn tăng tỉ lệ thành công trong tương lai. Tất nhiên cùng với nó cần dạy trẻ nhận thức đúng đắn chính mình, điểm mạnh, hạn chế và khả năng của bản thân để thể hiện sở trường, điểm mạnh và khắc phục những hạn chế. Họ luôn hiểu và đồng cảm với những trẻ nhút nhát, cổ vũ động viên trẻ và rèn luyện khả năng thể hiện bản thân ở nơi đông người.

    8. Thất bại chẳng là gì đối với con. Trong cuộc đời con người, không ai không có lần thất bại và vấp ngã, nhưng điều đó không đáng sợ, điều đáng sợ là sau khi vấp ngã không có đủ dũng khí để đứng lên, không rút được những bài học kinh nghiệm bổ ích để vững vàng đi tiếp. Mỗi khi con cái thất bại, cha mẹ người Do Thái luôn chú ý tới thái độ của mình, không chỉ trích mắng mỏ , mà luôn luôn cổ vũ, an ủi con. Để giáo dục con, họ chủ động đặt ra một số khó khăn cho trẻ để rèn luyện, thử thách. Nếu con thất bại, họ sẽ hướng dẫn trẻ tìm cách vượt qua những chướng ngại và thử thách để đạt được thành công, từ đó tăng thêm dũng khí cho trẻ.

    9. Chăm chỉ luôn là phẩm chất tốt đẹp của con. Chăm chỉ là một phẩm chất cần có của người Do Thái, vì vậy họ bồi dưỡng thói quen lao động cho trẻ từ nhỏ để rèn luyện đức tính chăm chỉ và kỹ năng sống cho trẻ. Họ khen ngợi kịp thời sự chăm chỉ của trẻ, những việc có thể làm được thì giao cho trẻ và họ đặc biệt quan tâm đến bồi dưỡng thói quen học tập chăm chỉ cho trẻ từ nhỏ.

    III. Quản lý tài chính

    1. 3 tuổi, con bắt đầu học nhận biết đồng tiền. Người Do Thái cho rằng, người có khả năng quản lí tài chính và ý thức đầu tư giỏi sẽ biết kiếm tiền và quản lý tiền. Do vậy họ cho rằng dạy trẻ những kiến thức về tài chính là rất quan trọng. Từ lúc 3-4 tuổi, đa số trẻ em Do Thái đều đã được học cách nhận biết đồng tiền, được giảng giải để hiểu về giá trị và công dụng của đồng tiền, được giáo dục cách chi tiêu và được dạy cách lập dự toán kế hoạch chi tiêu trong gia đình.

    2. 5 tuổi con đã bắt đầu làm thêm kiếm tiền. Trong gia đình người Do Thái, cha mẹ không chỉ dạy con độc lập về kinh tế, mà còn để trẻ thông qua cách “làm thêm” kiếm tiền tự nuôi bản thân và học được kĩ năng sống tự lập. Với họ 5 tuổi là giai đoạn thích hợp nhất để trẻ “làm thêm” việc nhà để kiếm tiền, họ có bảng phân công việc nhà hàng ngày cho trẻ, sau mỗi công việc có ghi số tiền thưởng. Tất nhiên không phải tất cả việc nhà đều được nhận tiền thưởng vì một số công việc thuộc về trách nhiệm của trẻ như giặt quần áo nhỏ của mình, thu dọn, sắp xếp sách vở…

    3. Con biết tiết kiệm, nhưng tuyệt đối không keo kiệt. Chăm chỉ và tiết kiệm là là hai yếu tố quan trong và là phẩm chất tốt đẹp của người Do Thái, nhưng họ không keo kiệt vì với họ, những người keo kiệt là những người ngu ngốc và nghèo khó. Họ giảng giải cho con biết chăm chỉ và tiết kiệm là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp; thông qua những việc nhỏ để trẻ biết ý nghĩa của chăm chỉ, tiết kiệm; dùng hành động của bản thân để làm gương và cảm hoá trẻ; hướng dẫn trẻ chi tiêu hợp lý, không hoang toàng và cũng không keo kiệt.

    4. 1 đô la con cũng muốn làm. Cha mẹ người Do Thái thường dạy con rằng: Không nên phân biệt tiền nhiều hay ít, món tiền nhiều cũng được tạo nên bởi những món tiền nhỏ, chỉ cần kiếm tiền một cách hợp pháp thì 1 đô la cũng cần kiếm; “Thương trường là chiến trường, trên chiến trường đó, luôn dùng thành bại để luận anh hùng”. Còn thành bại lại được quyết định bởi bạn có thông minh hơn không và biết dùng trí thông minh đó hay không.

    5. Giá trị của một kg đồng. Qua câu chuyện nhỏ về giá trị của một kg đồng, người Do Thái giáo dục con cái từ nhỏ rằng, tài sản đích thực là trí tuệ, chỉ có trí tuệ mới không bị ai tranh giành. Nhưng thực ra, sự thông minh nhạy bén của người Do Thái bắt nguồn từ thái độ của họ, họ không coi sự thông minh nhạy bén là mục đích duy nhất, mà chỉ là điều cần thiết để áp dụng trong cuộc sống. Còn đạo đức và thái độ đối với công việc mới là tiền đề để dẫn đến thành công.

    6. Con hiểu, nguy hiểm và thành công tỉ lệ thuận với nhau. Người Do Thái luôn thích mạo hiểm trong kinh doanh, vì chỉ có kinh doanh mạo hiểm, mới dễ đạt lợi nhuận cao. Do đó họ luôn giáo dục con cái coi trọng tinh thần mạo hiểm, dũng cảm vượt qua thách thức. Phương pháp của họ là truyền dạy cho trẻ quan niệm mạo hiểm đúng đắn như, không vi phạm pháp luật, không tổn hại đến đạo đức xã hội, không làm hại đến bản thân và người khác; sắp xếp các tình huống trong cuộc sống thường ngày để kích thích, hướng dẫn và rèn luyện tinh thần mạo hiểm cho trẻ.

    7. Thành tín, nguyên tắc kinh doanh của con. Người Do Thái đều rất thành tín, điều này liên quan rất lớn đến tín ngưỡng tôn giáo của họ. Họ không chỉ giữ tín ngưỡng trong kinh doanh mà trong bất cứ mối quan hệ nào. Bồi dưỡng phẩm chất thành tín cho trẻ được đặc biệt coi trọng, thông qua việc xây dựng tấm gương thành tín để con noi theo; đáp ứng nhu cầu hợp lí cho trẻ, những nhu cầu không hợp lí của trẻ cần được giảng giải; và cần tin tưởng trẻ, không nên nghi ngờ trẻ.

    IV. Đối xử thân thiện với người khác.

    1. Con sẽ đối xử với mọi người như với chính bản thân mình. Cha mẹ người Do Thái thường dạy con cần yêu thương người khác như yêu bản thân mình, biết yêu thương người khác chân thành mới nhận được sự tôn trọng và yêu mến của mọi người, đồng thời cuộc sống của con sẽ trở nên phong phú và thiết thực hơn. Họ bồi dưỡng cho con phẩm chất biết yêu thương thông qua việc tăng cơ hội cho trẻ giao lưu với những người xung quanh; đối xử khoan dung với người khác và ai cũng là người quan trọng, giúp trẻ học cách quan sát và cảm nhận niềm vui, nỗi buồn của người khác, biết cổ vũ động viên và an ủi kịp thời.

    2. Khi hàng xóm gặp khó khăn, chúng ta nên giúp đỡ họ. Truyền thống giúp đỡ lẫn nhau đã tồn tại từ rất lâu ở dân tộc Do Thái. Họ luôn dạy con cái biết yêu thương dân tộc mình, quan tâm tới mọi người; giúp đỡ người khác theo khả năng và không nên chờ đợi sự đền đáp ; khi giúp đỡ người khác, không được làm tổn thương đến lòng tự trọng của người ấy.

    3. Con là một đứa trẻ lễ phép. Lễ phép là phẩm chất cần có trong quan hệ giao tiếp, giúp giảm những xung đột, mâu thuẫn và tạo mối quan hệ hài hoà giữa người với người. Người Do Thái quan niệm, phẩm chất con người tốt hay xấu sẽ quyết định sự thành công của người ấy. Họ giáo dục con trẻ thông qua việc xây dựng tấm gương tốt; dạy trẻ các phép tắc lịch sự, lễ phép với khách, mọi người xung quanh và bồi dưỡng lòng tự tôn cho trẻ.

    4. Con không bao giờ được coi thường người khác. Không coi thường, đối xử bình đẳng, khoan dung và chân thành với mọi người là tiền đề để bản thân chúng ta được tôn trọng và có mối quan hệ tốt. Trong xã hội dân chủ, quan hệ rộng rãi là điều kiện cần thiết cho sự thành công của mỗi người, sự thành công của mỗi người không thể tách rời sự ủng hộ của những người xung quanh. Để giáo dục phẩm chất đó cho con trẻ, cha mẹ người Do Thái xoá bỏ các quan niệm cổ hủ, tăng cơ hội cho con cái trong tiếp xúc với người khác, nâng cao trình độ văn hoá cho trẻ để đánh giá con người và sự vật một cách toàn diện và sâu sắc hơn, từ đó hình thành thói quen tôn trọng người khác.

    5. Mặc dù còn nhỏ nhưng con đã biết đoàn kết. Chính bởi ý thức hợp tác, đoàn kết, tương thân tương ái, thận trọng trong lời nói, việc làm mà trải qua bao khó khăn, bị truy sát bức hại, người Do Thái vẫn ngoan cường sống, chiến đấu, sinh tồn và phát triển huy hoàng như ngày nay. Cha mẹ người Do Thái chú ý bồi dưỡng cho con trẻ tinh thần đoàn kết thông qua bồi dưỡng tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể, hoà nhập với mọi người, rèn luyện trẻ thông qua các trò chơi giúp trẻ thấy được lợi ích của sự đoàn kết.

    6. Con biết hai cái tai luôn nhiều hơn một cái miệng. “Thượng đế tạo cho con người hai cái tai, một cái miệng, là để chúng ta nói ít, nghe nhiều”…lời nói đúng mực như liều thuốc tốt, nhưng nói quá nhiều thì tác dụng ngược lại, không có ích mà còn làm hại bản thân; không có ai bình luận về cuộc sống của người khác cuộc sống sẽ bớt mâu thuẫn và tranh chấp; “Im lặng là vàng, hùng biện là bạc”. Đó là câu ngạn ngữ và những điều cha mẹ người Do Thái thường dạy con cái, họ còn dạy con không tùy tiện đánh giá người khác và dạy con ý nghĩa và cách thức lắng nghe để được người khác tin cậy.

    7. Sáng suốt khi kết bạn. Người Do Thái thường nói “Bạn bè chân chính giống như cái lều vững chãi, có thể che nắng che mưa cho con người, là vật báu vô giá trong cuộc sống”, “Chơi với chó sẽ có bọ chét bám vào người” và “Nếu con kết giao với người thông thái, con cũng trở thành người thông thái…” để dạy con cái thận trọng khi kết giao bạn bè. Họ dạy con lựa chọn bạn phải là người tôn trọng con vì người biết tôn trọng người khác sẽ biết cư xử đúng mực, có phẩm chất nhân cách cao quý; Là người hiểu con, họ có thể góp vui, chia buồn, an ủi và nhắc nhở con khi cần thiết; và là người giúp đỡ con những lúc khó khăn trong cuộc sống.

    8. Dù có ích thế nào con cũng không nên ép buộc người khác. Tôn trọng ý kiến và lựa chọn của người khác giúp trẻ cải thiện mối quan hệ, từ đó tạo mối quan hệ giao lưu gắn bó. Họ dạy con cần hiểu người khác khi giao lưu, cần học cách đặt mình vào vị trí người khác để suy nghĩ vấn đề, để có thể hiểu được người khác, tôn trọng ý kiến, quyết định của họ và việc hình thành thái độ khiêm tốn, hài hoà là điều không thể thiếu trong giao tiếp. Ngược lại ép buộc người khác làm theo ý mình là tự cô lập bản thân, gây phản cảm cho người khác và làm hỏng mối quan hệ giao tiếp.

    V. Quan niệm giáo dục có sức ảnh hưởng rất lớn.

    1. Chúng ta rất tự hào về con. Mỗi đứa trẻ đều có thiên phú riêng và đều rất đặc biệt, yêu trẻ chính là bạn cần chấp nhận trẻ, chấp nhận cả những thất bại và khuyết điểm của trẻ. Điều này sẽ đem lại cảm giác an toàn và tự tin , nhờ vậy trẻ sẽ có được sức mạnh phát huy được những năng lực tiềm ẩn. Ngoài ra, sự khẳng định của cha mẹ sẽ giúp trẻ học cách chấp nhận người khác, từ đó giúp trẻ học được sự khoan dung và độ lượng.

    2. Tất cả sự giáo dục đều là vì tương lai của con. Người Do Thái không chỉ chú trọng đến kiến thức đã học, mà còn chú trọng đến tài năng thiên bẩm của con và tạo điều kiện để tài năng đó phát triển, họ cho rằng thiếu tài năng thì khó phát huy được giá trị đích thực, họ rất coi trọng giáo dục, thông qua giáo dục để bồi dưỡng, phát huy tài năng cho trẻ. Ngoài ra họ rất quan tâm rèn luyện tính độc lập, tự suy nghĩ, không ngừng học hỏi, để chuẩn bị cho tương lai sau này.

    3. Phát triển tiềm năng cho trẻ càng sớm, càng tốt. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người Do Thái thông minh, đạt được nhiều giải Nobel một phần do hiệu quả của phương pháp giáo dục trẻ từ nhỏ mang lại. Người Do Thái quan tâm đến thuyết Thai giáo học “Thai nhi là thiên tài” và phương pháp giáo dục sớm 0-6 tuổi. Đặc biệt hơn điều này đã được lưu truyền lại trong kinh Toranh và kinh Talmudh của người Do Thái từ lâu đời. Vì vậy họ luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phú cho con và cho rằng trẻ từ 0-6 tuổi là thời kỳ đại não phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm chính là phát triển tiềm năng cho con, đặt nền tảng vững chắc cho con sau này. Theo nhà giáo dục người Do Thái- Bawe thì “Trong cuộc đời con người không có gì quan trọng hơn là giáo dục trẻ từ nhỏ, chúng ta nên tìm mọi cách để trí tuệ, khả năng của trẻ được phát huy tối đa” (mời xem bài “Giáo dục sớm” và bài “Đợi đến mẫu giáo thì đã muộn”). Hầu hết cha mẹ người Do Thái đều đồng ý với ý kiến của nhà bác học vĩ đại Albert Einstein, nhà giáo dục nổi tiếng Lozanov rằng “Hầu hết trẻ em sinh ra đều tiểm ẩn những thiên tài…” phương pháp giáo dục đúng đắn sẽ giúp trẻ phát huy hết tiềm năng của mình. Vì vậy quan tâm giáo dục ngôn ngữ, ngoại ngữ, rèn luyện khả năng ghi nhớ cho trẻ từ nhỏ, giải đáp mọi thắc mắc, kích thích trẻ hứng thú học tập và tìm hiểu kiến thức, thế giới xung quanh trẻ là điều vô cùng quan trọng để phát huy năng lực tiềm ẩn trong trẻ.

    4. Quan niệm lui lại thời gian hưởng thụ. Điều này như là một trong những bí quyết nuôi dạy con của người Do Thái. Những thứ mà con người muốn, không phải là cứ với tay là có được, mà đều cần có sự cố gắng, chăm chỉ và kiên trì trong một thời gian dài. Kéo dài thời gian chờ đợi hưởng thụ nhằm giúp trẻ rèn luyện tính kiên nhẫn và khả năng chịu áp lực tâm lý, từ đó tôi luyện phẩm chất kiên cường, ý chí và nghị lực vượt khó khăn trong cuộc sống để đạt được thành công.

    5. Con có thế mạnh cần tiếp tục phát huy. Không ai là người hoàn hảo, mức độ thiên phú thế mạnh và nhược điểm của mỗi người cũng khác nhau. Nếu cha mẹ không để ý, trách mắng trẻ, ép trẻ học tập làm việc để bù đắp những nhược điểm sẽ gây cho trẻ bị tổn thương. Mỗi vĩ nhân đều có những niềm đam mê riêng , mỗi đứa trẻ đều có sở trường riêng. Sự hứng thú sẽ kích thích trẻ học tập, nhưng đối với trẻ sự hứng thú thường không kéo dài vì vậy cần sự trợ giúp của cha mẹ để những hứng thú, đam mê của trẻ được duy trì và phát triển. Người làm cha mẹ giỏi là người phát hiện được những thiên hướng của con trẻ và tạo cơ hội để nó duy trì phát triển. Hãy luôn nhớ rằng “Trên đời không có phế thải, chỉ có để nhầm chỗ mà thôi”.

    6. Tài ăn nói chiếm một nửa của thành công. Người Do Thái cho rằng, muốn đạt được thành công, ngoài tư duy nhạy bén, ăn nói lưu loát là điều vô cùng quan trọng. Vì vậy họ rất quan tâm đến bồi dường khả năng ăn nói của con thông qua việc cổ vũ trẻ suy nghĩ, đặt và trả lời các câu hỏi, cổ vũ trẻ thể hiện bản thân trước đông người.

    7. Con nên biết thế nào là khả năng thưởng thức cái đẹp. Bồi dưỡng cảm quan thẩm mỹ không chỉ làm phong phú cuộc sống tinh thần, bồi dưỡng tình cảm cho trẻ, mà còn kích thích trí tuệ trẻ phát triển và bồi dưỡng thái độ sống lạc quan, tích cực. Để làm được việc đó họ bồi dưỡng cho trẻ nhận biết vẻ đẹp bên ngoài như sự hài hoà của màu sắc, vẻ đẹp của thiên nhiên và để trẻ cảm nhận cả vẻ đẹp bên trong của sự vật. Đó là lý do dân tộc Do Thái đã sinh ra nhiều hoạ sĩ, nhà điêu khắc, nghệ sĩ nổi tiếng.

    8. Lễ Vượt Qua, cùng nhau nhớ lại nào! Lễ Vượt Qua là để kỷ niệm Moses đã đưa dân tộc Do Thái thoát khỏi Ai Cập trong giai đoạn gian khổ. Đây là dịp cha mẹ kể cho con cái nghe những trải nghiệm khó khăn, gian khổ của tổ tiên, cùng ăn những món ăn đặc biệt như: Bánh không men, đùi cừu nướng, trứng gà nướng, rau đắng, rau cần, bốn cốc rượu để nếm trải những khó khăn, vất vả mà cha ông đã từng vượt qua. Trong lịch sử, người Do Thái đã trải qua muôn vàn khó khăn, gian khổ: Sống cuộc dời lang bạt, bị kỳ thị, nhân cách bị làm nhục, tính mạng bị dồn đẩy vào diệt vong… Những điều đó đã luôn nhắc nhở họ rằng, chỉ có trải qua những thử thách khó khăn, cuộc sống mới phát triển, dân tộc mới hưng thịnh. Với họ khó khăn là điều cần thiết cho cuộc đời của trẻ, họ quan tâm giúp trẻ hiểu được và cảm nhận sự khó khăn, vất vả, thậm chí còn tạo ra những trở ngại thích hợp cho trẻ, nhằm nâng cao khả năng chịu khó, chịu khổ từ đó giúp trẻ tự tin chiến thắng trong mọi hoàn cảnh.

    9. Giỏi lắm, chiếc ghế con làm rất đẹp. Kinh thánh Do Thái nói rằng: “Là cha mẹ thì bất cứ lúc nào cũng không mất đi niềm tin và hy vọng vào con cái, đặc biệt khi con cái gặp khó khăn”. Vì vậy cha mẹ cần quan tâm phát hiện thiên hướng tài năng của con trẻ, khích lệ động viên con phát huy những tài năng đó, bồi dưỡng sự tự tin, khích lệ sự tìm tòi, sáng tạo của trẻ. Mỗi lần không thành công, hãy giúp con rút được bài học kinh nghiệm và vượt qua khó khăn để bước tiếp một cách tự tin.

    VI. Giáo dục đạo đức cho con cái

    1. Con ơi, con nên biết hiếu kính với cha mẹ. Mỗi gia đình là một chỉnh thể, cần có sự đoàn kết, thương yêu lẫn nhau, tất cả mọi người đều tham gia vào công việc gia đình, vun đắp hạnh phúc gia đình, cha mẹ là trụ cột, giúp gia đình ổn định. Kính hiếu với ông bà, cha mẹ, người lớn là một phẩm chất đạo đức cơ bản cao quý nhất và ai cũng mong muốn điều đó ở con cái mình. Để làm được điều này chắc chắn các bậc cha mẹ phải là những tấm gương tốt cho con trong việc đối xử với ông bà, quan tâm xây dựng mối quan hệ gia đình hợp lý, có tôn ti trật tự, nhưng bình đẳng, lắng nghe, tôn trọng suy nghĩ của con, không dùng uy quyền và quyết định thay con, và tạo cơ hội cho trẻ thể hiện lòng hiếu thảo, tôn trọng cha mẹ.

    2. Con ơi, kính trọng cha mẹ là vô cùng quan trọng. Kinh thánh của người Do Thái có câu “Kính trọng cha mẹ làm bạn hạnh phúc và trường thọ”. Người Do Thái rất coi trọng gia đình, họ luôn quan niệm gia đình là tế bào của xã hôi, chỉ khi gia đình hoà thuận, cả dân tộc mới thịnh vượng, phát triển và sự đoàn kết và tình thương yêu là nguyên nhân quan trọng giúp dân tộc Do Thái phát triển và lớn mạnh. Để có một gia đình hoà thuận họ quan tâm điều chỉnh lời nói, ngữ khí không đúng cho trẻ, bồi dưỡng hành vi và cách diễn đạt, luôn kiên trì giải quyết các mâu thuẫn của trẻ.

    3. Gặp thầy cô giáo, con nên cúi chào. Người Do Thái thường nói: “Giáo dục trẻ là một công việc kỳ diệu, mỗi người đều cần tôn trọng thầy cô giống như tôn trọng Thượng Đế”. Trong quá trình trưởng thành, ngoài sự giáo dục của cha mẹ, phần nhiều trẻ được giáo dục, dạy dỗ bởi thầy cô giáo, sự thành công của trẻ không tách rời sự dạy dỗ của thầy cô. Vì thế, thầy cô giáo chính là cha mẹ thứ hai của trẻ. Để trẻ biết ơn và tôn trọng thầy cô, các bậc cha mẹ cần hướng dẫn có có thái độ nghiêm túc khi giao tiếp với thầy cô, có tình cảm chân thành và tin tưởng ở thầy cô.

    4. Con sẽ dành dụm tiền để cho người ăn xin. Cha mẹ người Do Thái thường nới, đối xử thân thiện với người khác chính là đối xử tốt với bản thân. Giáo dục lòng bao dung cho con như đối xử thân thiện với người khác, không coi thường bất cứ ai, dựa vào khả năng của chính mình để giúp đỡ người khác là công việc cần làm, nó sẽ giúp con cái trên bước đường trưởng thành sẽ luôn có những người bạn đồng hành.

    5. Con không nên tuỳ tiện nổi giận với người khác. Người Do Thái quan niệm “không dễ bị kích động mới là người thông minh”, người “khó bị kích động, luôn bình tĩnh” được xem là quân tử. Khi học được cách kiềm chế tình cảm của bản thân, sẽ ứng xử thân thiện với mọi người, như vậy quan hệ giữa mọi người sẽ trở nên tốt đẹp. Họ hướng dẫn con kiềm chế cơn tức giận bằng cách nhờ người tin tưởng để nhắc nhở, làm giảm thời gian cáu giận và nâng dần khả năng kiềm chế tình cảm của trẻ.

    6. Hãy yêu thương các loài vật nhỏ. Pháp luật Do Thái quy định con người phải biết yêu thương các loài động vật, cần phải bảo vệ những loài vật nhỏ bé, yếu đuối và họ luôn tuân thủ điều này. Họ tôn trọng và dạy trẻ tôn trọng quy luật của thế giới tự nhiên, tôn trọng nhịp điệu và quy luật sinh trưởng của các loài vật, tôn trọng những sinh mệnh nhỏ yếu và luôn ý thức vạn vật trên trái đất này đều bình đẳng, cùng chung sống, không ỷ lớn bắt nạt nhỏ.

    7. Thành thật, giữ chữ tín là một trong những phẩm chất cần thiết. Để giáo dục con cái phẩm chất này, ngay từ khi rất nhỏ họ đã giảng giải cho trẻ về sự trung thực, biết tầm quan trọng của sự thành thật, việc giữ chữ tín, đồng thời hình thành cho trẻ thói quen thành thật, không nói dối từ những việc nhỏ hàng ngày, thói quen tôn trọng lời hứa.

    VII. Cơ thể mạnh khoẻ là tiền đề của hạnh phúc.

    1. Con yêu, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nhé! Việc rửa tay, rửa mặt đối với người Do Thái được coi là một nghĩa vụ tôn giáo bắt buộc vì cho rằng thân thể là sản phẩm của Thượng Đế, cần được tôn trọng. Họ rất coi trọng bồi dưỡng thói quen vệ sinh cho con cái thông qua việc giữ môi trường sống, giữ quần áo và cơ thể sạch sẽ ngay từ khi còn nhỏ.

    2. Kết hợp dinh dưỡng một cách khoa học. Có trách nhiệm với cơ thể mình, chính là có trách nhiệm với Thượng Đế, ngoài việc giữ gìn vệ sinh, người Do Thái rất nghiêm túc trong ăn uống. Căn cứ vào giai đoạn phát triển của trẻ, căn cứ theo mùa để sắp xếp cơ cấu bữa ăn, ngoài ra còn chú ý đến cách chế biến và màu sắc để tăng sự hấp dẫn cũng như chất lượng của món ăn.

    3. Ăn uống đủ lượng và đúng giờ. Người Do Thái rất nghiêm khắc trong việc ăn uống ở gia đình và chú ý giáo dục con cái về ăn uống. Trong bữa ăn họ không chỉ quan tâm đến chủng loại thực phẩm hợp lý, mà còn quan tâm đến số lượng thức ăn và luôn ăn uống đúng giờ. Ngoài ra họ quan tâm hướng dẫn con cái cách ăn uống, tư thế ngồi ăn và một số nguyên tắc cần chấp hành trong khi ăn uống.

    4. Vận động nhiều giúp cơ thể khoẻ mạnh. “Sống là vận động”, luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên không chỉ có lợi về thể chất, sự trưởng thành và phát triển của trẻ mà còn bồi dưỡng ý chí cho trẻ. Cha mẹ người Do Thái luôn chú ý bồi dưỡng cho con thói quen vận động thông qua việc hướng dẫn các kỹ năng khi rèn luyện, lượng vận động và thời gian vận động thích hợp, ngoài ra còn khuyên khích con tham gia các hoạt động âm nhạc, chơi cờ…

    5. Con ơi, nhớ dọn dẹp phòng sạch sẽ. Giữ môi trường sống luôn sạch sẽ là một tôn chỉ của người Do Thái. Do đó, từ khi còn rất nhỏ, trẻ em Do Thái đã được rèn luyện giữ vệ sinh môi trường và thân thể luôn sạch sẽ. Cha mẹ người Do Thái lấy nguyên tắc trong tôn giáo để giáo dục con, hướng dẫn con một số kỹ năng dọn dẹp nhà cửa và dùng nhiều hình thức khuyến khích con giữ gìn nhà cửa, phòng ở sạch sẽ

    6. Để bố mẹ giúp con sắp xếp thời gian hợp lí. Người Do Thái luôn cho rằng ngày cuối tuần tốt nhất nên nghỉ ngơi ở nhà, tham gia các hoạt động vui vẻ, thoải mái, tận hưởng niềm vui gia đình, hoặc đọc và nghiên cứu những cuốn sách hay, không tiêu tốn sức lực để chuẩn bị cho việc học tập và công việc vào tuần tới.

    7. Văn hoá trên bàn ăn. Văn hoá ăn uống là một phần quan trong trong văn hoá của người Do Thái, họ cho rằng ngồi ăn cùng nhau sẽ bồi dưỡng thêm tình cảm gia đình. Họ luôn dạy con cái lễ nghĩa trên bàn ăn, với họ, những hành động trên bàn ăn của một người thể hiện tố chất và sự tu dưỡng của người đó; không bàn chuyện công việc bên bàn ăn và không được vắng mặt bên bàn ăn cùng gia đình.
     
Trả lời qua Facebook

Chia sẻ trang này